CHỦ NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN B
Phần cuối chu kì phụng vụ mời gọi chúng ta suy tư về lúc tận cùng của Lịch sử, nơi đến cuối cùng của cuộc đời chúng ta. Chúng ta biết rằng tiếng nói cuối cùng của Lịch sử thuộc về một mình Thiên Chúa. Qua Đức Giê su Ki tô, Thiên Chúa đã tha thứ và đã giải thoát chúng ta khỏi ách tội lỗi khốn cùng. Đến lượt mình, chúng ta cũng được mời gọi hãy tha thứ và giúp đỡ tha nhân.
Sách Tiên tri Đa ni ên 12,1-3:
Tin vào một Thiên Chúa tốt lành và công chính là khẳng định rằng sự bất công không phải là tiếng nói cuối cùng của Lịch sử. Đó là cách tuyên xưng rằng Án xử của Thiên Chúa, sự Công chính của Người và Lòng Tốt của Người thắng vượt tội lỗi mà con người đã phạm trong Lịch sử.
Thánh vịnh 15:
Tác giả Thánh vịnh đã lựa chọn: Ông nói KHÔNG với các bụt thần thế gian và nói CÓ với Thiên Chúa. Sựlựa chọn ấy giúp cuộc sống của ông trở nên phong phú. Ông không lo lắng cho tương lai nữa vì tâm hồn đã được bình an.
Thư Hr 10,11-14:
Trước Chúa Giê su, người ta cần phải lặp đi lặp lại các hi tế thanh tẩy mỗi ngày để lãnh nhận lòng từ ái tha thứ của Thiên Chúa. Còn Chúa Giê su, chỉ bày tỏ Lòng Thương xót của Thiên Chúa cho chúng ta một lần là đủ và đã vĩnh viễn thiết lập địa vị ưu tiên của TÌNH YÊU. Ngài không cần phải lặp lại ơn cứu độ qua nhiềuhi tế. Hi tế thập giá là ơn Cứu độ cho tất cả mọi người. Việc còn lại của chúng ta là đi vào trong vũ trụ của sự thánh thiện mở ra cho chúng ta.
Tin mừng: Mc 13,24-32
NGỮ CẢNH
Đoạn Tin Mừng nầy thuộc thành phần diễn từ Cánh Chung khởi sự từ câu hỏi của các Môn đồ (13,4). Họhỏi Chúa Giê su về thời điểm nào thì sự tàn phá sẽ xảy ra và đâu là điềm báo trước. Bài diễn từ dài của Chúa Giê su xem ra không phải là câu trả lời cho câu hỏi ấy. Các câu 5-13 nói về các dấu hiệu nguy hiểm đi trước và kết luận bằng lời khuyên hãy kiên nhẫn đến cùng. Các câu 14-23 mô tả cơn thử thách khủng khiếp xảy đến cho các tín hữu: quyền lực Satan sẽ nắm ưu thế khiến Thiên Chúa phải ra tay. Trong bối cảnh đầy tối tăm và tuyệt vọng ấy, đoạn tin mừng chúng ta (24-32) diễn tả cuộc chiến thắng cuối cùng và trở lại câu hỏi đã đặt ra ở câu 4: Bao giờ điều đó xảy ra?
Như các học giả Do thái thời đó, dường như Chúa Giê su đã dùng lối văn Khải Huyền trong CƯ, đặc biệt trong sách Đa niên, để triển khai giáo huấn của Ngài về Cánh Chung.
TÌM HIỂU
Mặt trời: đây là một trong các yếu tố của diễn từ cánh chung: sự đảo lộn của các mãnh lực trên trời. Ở đây tác giả dùng lối diễn tả biểu tượng giống như đoạn mô tả các tai hoạ lịch sử ở các câu 14-23. Các dấu chỉnói đến ở đây xảy ra sau các biến cố trên mặt đất, dẫn ta vào một giai đoạn mới, lần nầy siêu vượt lịch sử. Ta có thể tìm thấy nét tương đồng trong sách tiên tri Giô ên mà Phêrô đã trích dẫn trong ngày lễ Hiện Xuống (Cv 2.19-21).
Con Người: Xem câu Mc 2,10. Việc gợi lại quang cảnh huy hoàng ấy (như Con Người, đám mây, quyền năng và vinh quang, các thiên sứ) lấy hứng từ thị kiến của tiên tri Đa niên (7,13-14). Theo đó, trong một ngữ cảnh bách hại, tiên tri chỉ cho thấy một nhân vật ở trên trời là Con Người xuất hiện trên đám mây, nơi mà Thiên Chúa vừa ẩn mặt vừa mạc khải cho loài người. Đám mây nầy được dùng như cỗ xe đưa Ngài từtrời xuống, tạo thành một dấu chỉ nối liền trời và đất. Nhân vật Con Người ấy là chính Đức Giê su Ki tô vinh hiển, ngự bên hữu Thiên Chúa Cha trên trời, hướng về lúc cuối thời gian.
Lời xác quyết ấy của chính Chúa Giê su sẽ được lặp lại một lần nữa khi đứng trước toà (14,62): sự chết và sự phục sinh của Chúa Giê su có liên hệ mật thiết đến sự tận cùng của thời gian: ở trong hoàn cảnh nầy hayở trong hoàn cảnh đó Chúa Giê su tỏ hiện với quyền năng của Thiên Chúa.
Tập họp: sách Đệ Nhị Luật ghi lại Lời Thiên Chúa hứa cho con cái Israel qua ông Mô sê: “Đức Chúa Thiên Chúa của anh em, sẽ đổi vận mạng anh em, sẽ chạnh lòng thương và sẽ lại tập trung anh em về từ mọi dân, từ nơi mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em đã phân tán anh em. Dù anh em có bị đuổi xa đến tận chân trời, thì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em cũng sẽ tập trung anh em từ đó về, và từ đó Người sẽ đón anh em” (Đnl 30,3-4).
Cây vả: Chúa Giê su dùng một hình ảnh khác: như cây vả đâm chồi báo cho biết mùa Hè sắp đến, thì cũng thế, tất cả các dấu chỉ kể trên đây là điềm báo trước Đức Ki tô đã gần đến. Vậy cần phải sắp sẵn chờ Ngài trở lại.
Thầy bảo thật: bản văn dùng từ Híp pri: Amen nhằm nói lên tính cách long trọng của lời tuyên bố theo sau. X 8,12.
Thế hệ nầy: truyền thống Mác cô đã trung thành gìn giữ câu nói khó hiểu nầy. Nó gây không ít khó khăn lúng túng cho những người đương thời với ông, thuộc về dòng dõi đã qua đi mà thấy chẳng có gì xảy ra cả.Đây là dấu vết cho thấy người Do Thái và các Ki tô hữu đầu tiên chờ đợi một tận cùng gần kề của thế gian. (x. thêm 9.1).
Khi thấy những điều đó: dường như Chúa Giê su cũng tưởng rằng ngày cuối cùng sắp đến? Chúng ta phải hiểu như thế nào đây? Câu trả lời tuỳ thuộc vào ý nghĩa mà chúng ta gán cho cụm từ: “những điều đó”. Chúa Giê su muốn nói gì với cụm từ đó ? Về việc Giêrusalem điêu tàn chăng? Về các tai ương giáng xuống nhân loại trong các thế kỉ chăng? Hay về hình ảnh mô tả việc đảo lộn lớn lao trong vũ trụ vào lúc cuối thời gian? Khó mà xác định một cách chắc chắn. Nhất là trong văn mạch câu 32 theo sau xác định về việc không thể biết chính xác ngày giờ nào sẽ xảy ra. Có lẽ Mác cô muốn gửi đến các tín hữu đầu tiên thông điệp ấy nhằm trấn an sự khắc khoải tò mò muốn biết thời khắc Thiên Chúa thiết lập vương quốc vĩnh viễn của Người. Thái độ tò mò ấy vừa vô ích lại vừa nguy hiểm, chỉ có một thái độ duy nhất đúng là thức tỉnh chờđợi (x.13,33.35.37).
Trời đất: chương trình của Thiên Chúa vượt quá lịch sử và thời gian. Các “Lời” Chúa Giê su nói mạc khải cho chúng ta biết điều ấy. Trong CƯ Thiên Chúa nói qua các tiên tri. Nhưng giờ đây chính Chúa Giê su là Lời mà ngay từ nguyên thuỷ Người đã dùng để tạo dựng trời và đất. Thế nên trời đất nầy không là gì cả so với Lời ấy. Vững bền hơn, vô cùng bền vững hơn trời và đất. Lời ấy “không qua đi”.
Về ngày đó: Tin Mừng Luca cũng chia sẻ giáo lý nầy: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt..” (Cv 1,7).
Người Con: ở đây, Chúa Giê su tự cho mình là “Người Con”, tước hiệu dùng một cách tuyệt đối, không có xác định gì thêm. Lời xác quyết nầy chắc hẳn là của chính Ngài, vì ngoài Ngài, không ai biết được chân líấy. Chính Con cũng không biết ngày giờ. Điều ấy có thể gây khó khăn cho việc chú giải, nhưng lại là một dấu chỉ chắc chắn cho chúng ta biết câu nói ấy là do chính Ngài nói ra (ipsissima vox Jesu). Khi thuật lại lời nầy, Mác cô muốn cho thấy rằng Con hoàn toàn phó thác cho Cha, cả cuộc sống trần gian, cả giờ quyết định cho vinh hiển của Ngài. Một phần nào bí mật tương quan giữa Cha và Con được tỏ lộ.
SỨ ĐIỆP
Chu kì phụng vụ gần kết thúc. Các bài đọc Kinh Thánh chủ nhật nầy muốn lôi kéo sự chú ý của chúng ta vềNgày Đức Ki tô trở lại vào lúc cuối thời gian. Các bản văn ấy đã dùng một ngôn ngữ đặc biệt thông dụng thời đó mà ngày nay không còn ai sử dụng nữa. Đó là loại văn Khải huyền. Khi nghe hai tiếng Khải huyền, tự nhiên ai trong chúng ta cũng nghĩ đến hai chữ tai ương.
Tuy nhiên, khải huyền không phải là một quyển sách tai ương, nhưng là một quyển sách viết trong thời taiương. Dù có vẻ giống nhau nhưng hai điều ấy không đồng nghĩa với nhau. Khi Mác cô việc sách Tin mừng vào khoảng năm 70, các đạo quân La mã bao vây Thành Giê ru sa lem. Đền thờ sắp bị phá hủy. Ở Rô ma, hoàng đế Nê ron ra tay bách hại người ki tô hữu. Thánh Phê rô sắp chịu tử đạo cùng với nhiều người khác. Các cộng đoàn Ki tô hữu bị rúng động, và tự hỏi có phải Thiên Chúa đã từ bỏ họ rồi chăng.
Bài Tin mừng hôm nay là một sứ điệp mang lại niềm hi vọng an ủi những người trong cơn thử thách khi khẳng định rằng Thiên Chúa không bỏ và sẽ không bao giờ bỏ rơi dân Người. Đức Ki tô đã sống lại và mãnh lực sự dữ không còn quyền lực nào trên Ngài nữa. Điều quan trọng nhất là hãy đề phòng và thật tỉnh thức. Nhờ thế, khi Chúa trở lại, chúng ta sẽ không bị bất ngờ. Lời Chúa còn trấn an bằng cách tỏ cho chúng ta biết là sẽ có một thế giới mới xuất hiện, vì Thiên Chúa không ngừng làm phát sinh sự sống, tạo dựng điều Mới. Tạo thành mới nầy, thế giới mới nầy, là mục tiêu mà Thiên Chúa đã nhắm đến từ muôn đời: tất cả mọi người sẽ qui tụ lại và mọi dân tộc sẽ được giao hòa trong Chúa Giê su Ki tô, trong sự sống sung mãn của Thiên Chúa.
Bản văn khải huyền đến với chúng ta trong tình huống đặc biệt của hôm nay. Hầu như hằng ngày, những gì xảy đến đã thực sự làm rúng động mọi người. Chúng ta nghĩ đến những cơn bão dữ dội gieo kinh hoàng và tàn phá khắp thế giới, các cuộc chiến đang diễn ra khốc liệt ở Trung Đông, hằng triệu người đang phải di cư lánh nạn, nạn đói triền miên ở Phi Châu, vv. Vì thế, các bài đọc hôm nay không nhằm chuẩn bị cho chúng ta đón ngày tận thế, nhưng là thời khắc tận cùng của những “thế giới nhỏ” mà chúng ta đang tạo ra cho mình. Chúng ta đang sống trong ảo tưởng cho rằng mọi sự đều đã được quyết định rồi. Thật ra chúng ta đang sống trong thế giới tạm thời. Một vài biến cố nhỏ cũng đủ làm cho tất cả xáo trộn trong đời sống chúng ta: cái chết của một người thân, mất việc làm, một tai nạn, một căn bệnh hiểm nghèo, một thất bại. Và cũng không có gì chắc chắn cho ngày mai. Do vậy, lời mời gọi tỉnh thức của Chúa phải được nghiêm chỉnh tiếp nhận
Nhưng tỉnh thức không có nghĩa là vùi đầu trong bi quan và chịu đựng. Bài tin mừng mời gọi chúng ta phải lạc quan chờ đợi. Một vài ngày trước cuộc Khổ nạn, Chúa Giê su đã loan báo mùa hè phục sinh cho Ngài và cho thế gian. “Khi những cành cây vả đổi màu, khi những chồi non bắt đầu ló hiện, anh em biết mùa hè gần đến. Cũng thế, ngày Nước Thiên Chúa tỏ hiện huy hoàng sắp đến”.
Nếu Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta, thì không phải chỉ để chúng ta sống một vài chục năm trên thế gian mong manh và đầy xáo trộn, đầy những giới hạn và quay cuồng, trong khi ước muốn của chúng ta đều hướng về vô hạn. Nếu Thiên Chúa để cho chúng ta sống trong thế giới nầy, chính là để chúng ta cộng tác với Ngài để chuẩn bị cho thế giới mới. Thế giới tình yêu, trong đó mỗi người tìm được niềm vui trong hạnh phúc của người khác. Thế giới công bằng, nơi mà tất cả mọi người đều được dự phần hưởng hạnh phúc sự sống. Thế giới hòa bình, nơi mà tất cả mọi người có những tương quan thực sự huynh đệ, trong sự cảm thông và hiểu biết đối với những người khác biệt về văn hóa, tôn giáo và niềm tin. Thế giới nơi mà chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa, theo cách nói của ông Gióp, là Đấng mà nhiều người tìm kiếm nhưng không biết. Sách Khải huyền nói với chúng ta: “Thiên Chúa sẽ ở với con người, Ngài sẽ lau sách nước mắt họ, sẽ không còn sự chết nữa, không còn đau khổ nữa, vì thế giới cũ đã biến mất rồi”.
Dù sự thật khó tin, chúng ta tin vào Lời hứa ấy, vì Thiên Chúa đã không tạo dựng chúng ta để chết muôn đời, nhưng không ngừng làm nẩy sinh sự sống cho dù điều gì sẽ xảy ra. Tôi tin vào Chúa Giê su lặp lại với chúng ta: “Ta là Sự Sống lại và là sự sống”. Khi Chúa Giê su nói với chúng ta về sự sống lại và là sự sống, không chỉ sau cái chết. Chính trong ngày hôm nay mà mỗi người được kêu gọi vào một sự sống đổi mới.
Thế thì, chúng ta hãy cùng thức tỉnh. Chồi non báo hiệu mùa hè đã xuất hiện. Sứ điệp tin mừng không ngừng nẩy mầm: “Một cây ngã xuống gây nhiều tiếng động hơn cả khu rừng đang lớn lên”. Chúng ta hãy cùng nhau dồn mọi nỗ lực chuẩn bị Vương quốc tình yêu, công chính và bình an, nơi mà Thiên Chúa muốn qui tụ tất cả mọi người trong sự hòa giải nơi Chúa Giê su Ki tô.
ĐÀO SÂU
1. HỎI: Sách Đa-ni-ênxuất hiện trong hoàn cảnh nào?
THƯA: Sách Đa-ni-ên có lẽ được soạn vào năm 165 (tr. Chúa Giáng Sinh) giữa thời kỳ Antiôkhô bách hại người Do thái trước khi cuộc nổi dậy của anh em Ma-ca-bê thành công. Mục đích nhằm an ủi khích lệ Dân Chúa giữ vững niềm tin trong cơn thử thách.
2. HỎI: Bài đọc 1 nói đến điều gì?
THƯA: Bài đọc 1 trích từ sách tiên tri Đa-ni-ên gồm một lời khuyên củng cố đức tin gửi đến những người tín hữu đang phải trải qua cơn bách hại, và một lời tuyên xưng đức tin vào việc kẻ chết sẽ sống lại.
3. HỎI: Bối cảnh bài đọc một như thế nào?
THƯA: Bấy giờ, Vua Hi lạpAntiôkhô IV lên ngôi năm 175 (tr. Chúa Giáng Sinh) Ông tự xưng là ‘Thần Linh hiện thân = Thêô Êpiphanô’. Ông muốn tiêu diệt Do Thái giáo và luật Môsê, Hy Lạp hoá người Do Thái. Antiôkhô đã biến Đền Thờ Giêrusalem thành nơi thờ thần Zeus của người Hy Lạp. Điều này quá sức chịu đựng của người Do Thái. Năm 166 - 165 (tr. Chúa Giáng Sinh), Một năm sau khi Đền Thờ bị xúc phạm, một cuộc nổi dậy công khai của người Do Thái đã bùng nổ dưới sự lãnh đạo của Matathia, tư tếthuộc dòng Giôdarip.
4. HỎI: Hai khẳng định quan trọngtrong bài đọc một là gì?
THƯA: Hai khẳng địnhquan trọng ấy là thứ nhất: lời an ủi gởi đến các đồng bào đang trải qua thời kì bách hại khủng khiếp; hai là tuyên xưng đức tin vào sự kẻ chết sống lại.
5. HỎI: Lời an ủi ấy như thế nào?
THƯA: Tiên tri nói lời an ủi với những người đã chọn trung thành với Thiên Chúa và Lề luật. Tổng lãnh Thiên thần Micae sẽ bảo vệ anh em. Trên trần gian, anh em bị bách hại, và kẻ thù thắng thế, nhưng trên trời anh em sẽ chiến thắng vì các đạo quân thiên sứ sẽ dành chiến thắng cho anh em. Vì Thiên Chúa luôn gần gủi những ai đang bị quẫn bách.
6. HỎI: Khẳng định thứ hai như thế nào?
THƯA: Khẳng định thứ hai về sự kẻ chết sống lại. Những người chết vì niềm tin của mình sẽ sống lại đểsống đời đời: ‘Các hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ, những ai làm cho người người nên công chính, sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao.’(12,3).
7. HỎI: Câu 12,1 có nghĩa gì?
THƯA: Vào cuối cuộc chiến giữa vua phương Bắc và vua phương nam (11,1-42), Mi-ca-en sẽ đứng lên, bấy giờ muôn dân sẽ lo lắng, nhưng ‘tất cả những ai được ghi tên trong cuốn sách của Thiên Chúa’ sẽ được cứu thoát (c.1).
8. HỎI: Câu 12,2 có nghĩa gì?
THƯA: ‘Phúc trường sinh’ sẽ được ban cho các anh hùng chứng nhân tử đạo (x. 2 Mcb7), còn những kẻbách hại sẽ ‘chịu ô nhục và ghê tởm muôn đời’.
9. HỎI: Câu 12,3 có nghĩa gì?
THƯA: Những ai liều mạng sống mình để giúp người khác được trở nên công chính sẽ được chia sẻ sựsống muôn đời với Thiên Chúa.
10. HỎI: Bài đọc một liên kết với bài tin mừng như thế nào?
THƯA: Đức Giê su tự giới thiệu như là Con người (Đn 7). Từ khi Ngài chết và sống lại, thời cuối cùng đã điểm. Cuộc chiến quyết định không còn xảy ra giữa các quốc gia nữa, nhưng giữa các thế lực sự Dữ và Hội Thánh của Đấng Phục sinh. Vì thế, thay vì tò mò tìm biết lúc nào tận thế, người tín hữu phải nhận ra mỗi ngày các dấu chỉ nhỏ bé nhưng thực sự của mùa Xuân phục sinh, của thế giới mới.
11. HỎI: Ngữ cảnh bài tin mừng (Mc 13,24-32) như thế nào?
THƯA: Đoạn Tin Mừng nầy thuộc thành phần diễn từ Cánh Chung khởi sự từ câu hỏi của các Môn đệ (13,4)về thời điểm nào thì sự tàn phá sẽ xảy ra và đâu là điềm báo trước. Bài diễn từ dài của Chúa Giê su xem ra không phải là câu trả lời cho câu hỏi ấy. Trước tiên Chúa Giê su nói về các dấu hiệu nguy hiểm đi trước và kết luận bằng lời khuyên hãy kiên nhẫn đến cùng (cc. 5-13). Kế đến, Ngài mô tả cơn thử thách khủng khiếp xảy đến cho các tín hữu: quyền lực Satan sẽ nắm ưu thế khiến Thiên Chúa phải ra tay (cc. 14-23). Trong bối cảnh đầy tối tăm và tuyệt vọng ấy, đoạn tin mừng chúng ta (24-32) diễn tả cuộc chiến thắng cuối cùng và trở lại câu hỏi đã đặt ra ở câu 4: Bao giờ điều đó xảy ra? Có 2 ý chính: 1. Cuộc quang lâm của Chúa Giê su (13,24-27). 2. Thời khắc diễn ra (28-32).
12. HỎI: Bài tin mừng thuộc loại văn gì?
THƯA: Bài tin mừng thuộc loại văn Khải Huyền. Đó là kiểu thức văn chương nói đến mầu nhiệm của Thiên Chúa nhằm củng cố niềm hi vọng của họ trước những thay đổi to lớn kinh hoàng trong vũ trụ.
13. HỎI: Những hình ảnh trong đoạn tin mừng muốn nói đến điều gì?
THƯA: Ngôn ngữ và hình ảnh được sử dụng bởi tác giả Tin Mừng gợi nhớ lại các đoạn Kinh Thánh khải huyền và tiên tri, mô tả sự can thiệp trừng phạt của Thiên Chúa chống lại các quốc gia (x. Is 13:10; 24,18 tt, Ed 32,7). Các biến chuyển kinh hoàng trong vũ trụ được mô tả trong đoạn tin mừng cho thấy sức mạnh và uy quyền của Thiên Chúa. Chúa Giêsu dùng những hình ảnh ấy để mời gọi mọi người hãy tỉnh thức chờđợi Ngài trở lại trong vinh quang
14. HỎI: Đoạn tin mừng ám chỉ đến ngày tận thế?
THƯA: Người ta thường tin rằng đoạn tin mừng đề cập đến sự xuất hiện của Con Người vào lúc tận cùng thế giới. Và theo nhiều nhà chú giải Kinh Thánh, đoạn này cũng nói đến sự sụp đổ của Giê-ru-sa-lem, bởi vì mối liên kết giữa các câu 19-23 và 24-27 cho thấy dường như có một sự đồng thời giữa cơn đại nạn và việc Chúa Kitô đến.
15. HỎI: Đoạn văn này có ám chỉ đến Đn 7,13 – 14 không?
THƯA: Có, và điều này khẳng định những gì đã nói ở trên. Trong Đn 7,13-14, một đấng ngự đến giống như Con Người, trên đám mây cho thấy Vương quốc của Thiên Chúa được thiết lập trên trái đất. Cùng với việc thành và đền thờ Giê-ru-sa-lem bị phá hủy, Thời đại cũ đã chấm dứt và thời đại mới bắt đầu. Trong thực tế, thời đại cứu độ được mở rộng cho tất cả các dân tộc. Thời gian của Vương quốc Đấng Mê-si-a sẽlan rộng trên toàn thế giới.
16. HỎI: Chúa Giêsu có ý gì khi nói rằng Ngài sẽ gửi các thiên thần đến để qui tụ các người được tuyển chọn “từ bốn phương”?
THƯA: Với những lời này, có lẽ Chúa Giêsu muốn nói rằng, “Số Sót còn lại” của dân ưu tuyển sẽ sám hối và sẽ tập hợp chung quanh Đức Kitô-Đấng Mê-si-a và trở nên thành phần trong Giáo Hội Ngài.
17. HỎI: Chúa Giêsu có ý gì khi sử dụng từ “tập họp”?
THƯA: Ngài đề cập đến sứ mạng cứu độ vĩnh cửu của Ngài cho tất cả nhân loại. Thật vậy, trong một vài đoạn Tân Ước, từ “tập họp” được dùng để chỉ sứ mạng cứu độ của Đấng Mêsia (x. Ga 6,12 = ... thu lượm những miếng bành còn dư ..., Ga 6,50 51)
18. HỎI: Chúa Giêsu có ám chỉ đến sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem không khi khẳng định rằng thếhệ của Ngài sẽ chứng kiến những gì Ngài nói?
THƯA: Có, Chúa Giêsu đề cập đến biến cố Giê ru sa lem bị tàn phá bằng kiểu nói trách cứ và lên án vì thuật ngữ “thế hệ” thường được sử dụng trong ý miệt thị. Sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem, xảy ra gần 40 năm sau lời tiên tri nghiêm khắc này phải được coi như là một sự trừng phạt giáng xuống “thế hệ” mù quáng và cứng lòng đã chối bỏ Đấng Mê-si-a (x. Mt 23,35-36).
19. HỎI: Chúa Giêsu nói rằng những lời nói của Ngài sẽ không qua đi. Có thể coi đó là lời tiên tri về việc Lời Thiên Chúa luôn có tính hiện thực và về sự kiện là sau gần 2000 năm, lời Ngài vẫn được đọc và không ngừng được trích dẫn?
THƯA: Đúng là như vậy, nhưng không chỉ có thế. Chúa Giêsu đưa ra lời khẳng định mạnh mẽ về chân lý trường cửu và sự không thể sai lầm trong lời nói của Ngài.
20. HỎI: Tại sao Chúa Giê su nói rằng chỉ có Chúa Cha mới biết? Và lời tuyên bố như thế có trái ngược với lời tuyên bố ở trên trong câu 30 không?
THƯA: Chúa Giê su nói như thế vì Ngài không có nhiệm vụ tiết lộ cho ai biết ngày mà Chúa Cha đã quyết định để Thành Thánh Giê ru sa lem bị phá hủy.
Ngoài ra, lời tuyên bố của Ngài cũng không mâu thuẫn với những gì Ngài đã nói. Thật vậy, trong câu 30, Chúa Giêsu đã nói một cách tổng quát khoảng thời gian xảy ra việc Thánh Thánh bị triệt hạ, và dân Ngài bịphân tán khắp nơi. Còn trong câu nầy, Ngài khẳng định rằng không ai biết chính xác ngày xảy ra biến cốkhủng khiếp đó.
21. HỎI: Bài đọc thứ hai có nội dung như thế nào?
THƯA: Đức Giê-su không cần phải lặp đi lặp lại các hi tế thanh tẩy mỗi ngày như xưa trong Cựu Ước nữa. Hi tế của Ngài trên thập giá một lần là đủ mang lại sự tha thứ tội lỗi cho mọi người. Giờ Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa Cha đợi chờ ngày các kẻ thù bị đánh bại. Những ai được thanh tẩy tội lỗi sẽ được sống trong ánh sáng của Thiên Chúa.
22. HỎI: Sống sứ điệp tin mừng thế nào?
THƯA: 1. Củng cố đức tin vào Thiên Chúa, Ngài trung tín với lời hứa, sẽ an ủi, nâng đỡ và tưởng thưởng cho những ai kiên trung với Ngài đến cùng trước những bách hại và thử thách.
2, Sẵn sàng chấp nhận cuộc sống đau thương nơi ‘sủng đầy khóc lóc’ nầy. Đó là những thử thách cần thiết để thanh luyện người môn đệ Đức Ki tô cho xứng đáng với tình yêu mà Ngài dành cho.
3. Quá khứ đã qua rồi, còn tương lai thuộc về Thiên Chúa, sống giây phút hiện tại trong niềm tin mãnh liệt vào tương lai do Thiên Chúa hướng dẫn. Và hoàn toàn phó thác cho quyền năng và tình yêu của Ngài. Nhưthế chúng ta sẽ an tâm sống chứng nhân như một ki tô hữu theo gương các thánh tử đạo Việt Nam.