Suy
Niệm Lời Chúa Chúa Nhật V Mùa Chay C

Chúng ta có thật sự dấn thân trên con đường Sám Hối
không? Nếu sáng suốt, chúng ta sẽ nhận ra rằng lời mời gọi chúng ta Sám Hối về
những gì mà chúng ta xét đoán người khác. Trong khi chúng ta tự giam mình trong
những nguyên tắc cứng nhắc, thì Chúa Giê su, đấng thanh sạch tuyệt vời, chỉ biết
bày tỏ lòng Thương Xót và Kiên trì chờ đợi tha thứ. Lễ Phục sinh gần đến, chúng
ta càng phải khẩn thiết cầu nguyện và thành tâm Sám Hối.
Sách Tiên
tri Is 43,16-21
Trong cuộc lưu đày ở Ba by lon, người Do thái mơ về
quá khứ vinh quang của họ. Một Tiên tri mời họ hướng về Tương lai. Không bao
lâu nữa, Thiên Chúa sẽ thực hiện một cuộc Xuất hành mới bằng cách đưa dân Người
trở về quê hương ngang qua sa mạc. Tuy nhiên, cuộc Trở về phải kèm theo một cuộc
Sám Hối trong cuộc sống.
Thánh Vịnh
125
Cuộc trở về từ Đất Hứa, cuộc xuất hành mới, cho thấy
Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Một lần nữa giải phóng dân Người sau cơn thử
thách. Những ai gieo trong nước mắt sẽ gặt trong hân hoan.
Thư gửi tín
hữu Phi líp phê 3,8-14
Bị chinh phục bởi cuộc khám phá Đức Ki tô, thánh
Phao lô giờ đây coi những lợi lộc của cuộc sống trước kia của ngài chỉ như rơm
rác. Trước kia, ngài đã xác tín rằng nhờ vào Lề luật con người được trở nên
công chính trước mặt Thiên Chúa, nhưng khi đã khám phá sự bất hạnh của mình,
ngài đã nhận ra thế nào là Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Sau khi đã nhận thấy
tương quan đích thực với Thiên Chúa Tình yêu, ngài không còn sống cho chính
mình nữa, nhưng cho Đức Ki tô và Đức Ki tô đã trở thành động lực cho cuộc sống.
Tin mừng Ga
8, 1-11
NGỮ CẢNH
Có lẽ đoạn Tin mừng nầy không phải của Gioan: văn
phong đúng hơn là của Luca. Cấu trúc của nó giống cấu trúc thường thấy trong
Tin Mừng Nhất Lãm: một câu truyện ngắn đề cao một câu nói của Chúa Giê su. Đàng
khác chúng ta cũng biết Luca quan tâm đến nữ giới và lòng thương xót của Chúa
Giê su đối với các tội nhân.
Tuy nhiên đoạn văn nầy vẫn có thể được nằm trong
dàn bài tổng quát là cho thấy các âm mưu mà các địch thủ bày ra để gày bẫy nhằm
tố cáo Chúa Giê su. Dựa trên một sự kiện chính xác “đang phạm tội ngoại tình”,
và cái bẫy giương ra: “Luật dạy..”, “còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”. Trước tiên Chúa
Giê su từ chối trả lời họ (8,6), kế đến Ngài hỏi vặn lại (8,7) khiến cho các địch
thủ bị đặt trước lương tâm của mình nên rút lui từng người một (8,7-9). Bấy giờ
Chúa Giê su cho biết ý kiến rằng Ngài cũng không kết án, nhưng tin vào tự do
con người (8,10-11).
TÌM HIỂU
Núi Ô liu: việc Chúa Giê su đi lại từ núi Ô liu đến
Đền thờ cũng được Luca nói đến 21,37-38, trong những ngày gần Tiệc li. Có lẽ tại
đó tác giả đặt cảnh cho câu truyện nầy, như một vài thủ bản cổ gợi ý.
Các kinh sư: trong sách tin mừng Gioan, chỉ ở đây
người ta mới nhắc đến các kinh sư, trong khi Nhất lãm thường xuyên nhắc tới họ
như là đối thủ của Chúa Giê su.
Sách Luật: luật nầy gồm bộ luật hình sự áp dụng
cho nhiều hình thức ngoại tình (Lv 20; Đnl 22). Hình phạt dự kiến là tử hình
cho những kẻ tòng phạm. Các ký lục và Biệt phái dựa trên hai đoạn văn: một là
đoạn Lv 20 ra lệnh giết chết người đàn ông và người đàn bà ngoại tình, và kế đến
là đoạn Đnl 22,22-24 dạy ném đá người đàn bà ngoại tình với tòng phạm. Sự
nghiêm khắc của Lề Luật tương phản gay gắt với lòng nhân từ mà Chúa Giê su rao
giảng. Đây là cơ hội tốt để bắt bí Ngài, họ nghĩ thế. Nếu không theo Lề Luật,
Ngài sẽ bị tố cáo phạm pháp; còn nếu theo Lề Luật, danh tiếng và giáo thuyết của
Ngài về lòng nhân từ sẽ bị sụp đổ.
Thầy nghĩ sao ?: câu hỏi nầy vừa kín đáo
khiêu khích Chúa Giê su chống lại Luật Môi sê, vừa công nhận giáo lí về lòng
nhân từ của ngài. « Là người dạy ơn tha thứ của Thiên Chúa, là người đến để
tìm kiếm kẻ tội lỗi, Thầy dạy sao về trường hợp nầy ? ».
Thử Ngài: ngoài cái bẫy luật do thái-luật la mã,
Chúa Giê su còn bị gày một bẫy khác nguy hiểm hơn nhiều; nếu Ngài chống lại luật
do thái, thì Ngài mâu thuẫn với giáo huấn của chính ngài về sự bất khả phân li
của hôn nhân (Mc 10,1-12).
Viết trên đất: một cách để cho thấy câu hỏi đặt ra
không ăn nhập gì tới mình ? hay chỉ là một lúc tạm ngưng để tăng giá trị
cho câu trả lời và làm cho mọi người chú ý để mỗi người có thể tiếp nhận?
Ném trước đi: một khoản luật trong Đnl (17,5-7) buộc
các nhân chứng tố cáo phải là người ném đá đầu tiên, rồi sau đó đám đông sẽ làm
theo. Chúa Giê su đưa họ về thực tế: mời gọi họ tự coi mình là tội nhân và xét
xử chính bản thân mình trước.
Lại viết: X. Câu 6, Chúa Giê su bắt đầu viết trên
mặt đất để cho mọi người có thời gian đối diện với lương tâm của mình.
Người lớn tuổi: kiểu nói nầy không nhất thiết chỉ
những người cao tuổi, nhưng có thể chỉ một người có trách nhiệm và thực hiện chức
năng xét xử. Trong Đn 13,5.50, hai vị « trưởng lão », vu khống
Suzanna là những vị thẩm phán hơn là những ông già.
Họ đâu cả rồi ?: bài học mà Chúa Giê su đưa
ra đã có kết quả. Họ không thể tiếp tục hành vi lên án khi đứng trước « đấng
đã đến để cứu độ những kẻ bị mất » (Lc 19,10), đấng mà Thiên Chúa
« đã sai đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ
Ngài mà được cứu» (3,17).
Không ai: do vậy không có một lời kết án nào của hội
đồng Do thái. Đây là trường hợp vụng về mà người ta dựng lên để chống lại Chúa
Giê su. Nếu không, những kẻ gắn bó với lề luật nầy đã ném đá rồi (x. Ga
10,31-33; 11,8 và Cv 7,57-59)
Từ nay đừng phạm tội nữa: Chúa Giê su không kết án
mà cũng không chấp nhận tội lỗi. Ngài tha thứ và ban lại lòng tin. Ngài không hỏi
cô có thống hối không và không giao việc đền tội. Ngài giải thoát cô mà không
kèm theo một điều kiện nào, chỉ ban cho cô lí do để tin và hy vọng vào chính
mình.
Bản văn nầy hoà điệu với các xác quyết quan trọng
của Phaolô trong thư Rôma: « Mọi người đều đã phạm tội » (3,9), cả
người Do Thái, nhân danh lề luật để xét xử các tội nhân (2,1.17). Nhưng người
ki tô hữu, được giải thoát một cách nhưng không, không thể tiếp tục sống trong
tội lỗi (6,1-2).
SỨ ĐIỆP
Phần mở đầu tin mừng hôm
nay cho biết Chúa Giê su trở lại đền thờ Giê ru sa lem, và bắt đầu giảng dạy
dân chúng. Bấy giờ các luật sĩ và người Pha ri sêu dẫn đến cho Ngài một thiếu
phụ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, họ gài bẫy Ngài bằng câu hỏi: “Thầy
nghĩ sao về trường hợp ấy?”.
Câu
hỏi ấy luôn có tính thời sự: “Thầy nghĩ sao về những kẻ chuyên làm giàu trên
xương máu của những kẻ nghèo khổ? Thầy nghĩ sao về những kẻ quyền thế áp bức những
người yếu? Thầy nghĩ sao về... bản kê khai có thể kéo dài. Chúng ta dễ có cùng
cảm nghĩ như những người luật sĩ và Pha ri sêu: họ xứng đáng bị trừng phạt
nghiêm khắc. Nhưng hôm nay điều quan trọng không phải là dừng lại ở điều mà
chúng ta cho là đúng, nhưng tìm hiểu Lời Chúa nói như thế nào và để cho Lời ấy
mời gọi chúng ta.
Tất
cả chúng ta đều nhận rằng thật khó mà có cái nhìn của Thiên Chúa về những người
chung quanh. Chúng ta thường có khuynh hướng nghĩ xấu về người khác, phê bình họ,
nhận chìm họ sâu hơn trong quá khứ và tai tiếng của họ. Ngày hôm nay Chúa Giê
su muốn cho chúng ta hiểu rằng thái độ đó cực kì tai hại. Nó đầu độc bầu khí lẽ
ra phải trở nên thân hữu, và làm cho cuộc sống chung trở nên nặng nề. Cuối cùng
tất cả sẽ quay lại chống đối người đã nói ra những điều xấu xa như thế.
Nếu
đi sâu hơn vào nội dung của bài tin mừng hôm nay, chúng ta sẽ nhận thấy câu trả
lời của Chúa Giê su khiến người nghe phải ngạc nhiên: nó không nhắm tới người
phạm tội, nhưng muốn thức tỉnh những ai muốn nhân danh lề luật lên án người ấy.
Tất cả được mời gọi nhìn về chính mình: “Ai không có tội, hãy ném đá người nầy
trước đi”. Và Tin mừng kể lại, tất cả đều rút lui, bắt đầu từ những người nhiều
tuổi nhất.
Chúng
ta phải nhận thức rõ rằng trước mặt Chúa, tất cả chúng ta đều là tội nhân. Ngày
hôm nay, Ngài tiếp tục mời gọi chúng ta suy nghĩ về chính mình. Khi nghiêm khắc
lên án những kẻ phạm tội, thì đồng thời chúng ta cũng lên án chính mình. Lường
nào mà chúng ta dùng cho họ, sẽ được dùng để đo chúng ta. Chúng ta là ai mà lên
án người khác trong khi chúng ta rất cần được người khác tha thứ.
Những
kẻ nắm giữ lề luật lặng lẽ rút lui sau khi lén bỏ những cục đá mà họ cầm trên
tay xuống đất. Những lời cuối cùng của Chúa Giê su nhắm đến người phụ nữ: “Cả
tôi, tôi cũng không kết án chị. Hãy đi về và từ nay đừng phạm tội nữa!”. Qua
câu nói nầy, Chúa Giê su không tán thành tội lỗi: Ngài không biện minh cho sự xấu.
Tội muôn đời vẫn là tội và cần phải bị diệt trừ. Nhưng người có tội luôn luôn
là một con người mà Chúa Giê su muốn cứu vớt. Ngài đến để tất cả được sống và
được sống dồi dào.
Ai
trong chúng ta cũng có thể tưởng tượng niềm vui của người phụ nữ đứng trước mặt
Chúa Giê su. Trước hết, chị thoát khỏi một cái chết thảm khốc. Nhưng điều quan
trọng hơn là một con đường mới mở ra trước mắt. Chị cảm nhận được rằng mình đã
được yêu thương vượt quá tội lỗi của mình. Nhờ sự tha thứ của Chúa Giê su, chị
không còn bị giam hãm trong chính quá khứ tối tăm, trong sự bất trung và tai tiếng
của mình nữa. Chị đã tìm gặp một ai đó đã mở ra một con đường mới, cho phép
mình bắt đầu lại trong niềm hi vọng: “Hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa”.
Tất
cả chúng ta được mời gọi làm lại trải nghiệm ấy nơi tình yêu của Thiên Chúa, đặc
biệt trong bí tích hòa giải. Đó là cơ hội cho phép chúng ta khám phá ra sự cao
cả của tình yêu Chúa Giê su đối với chúng ta và anh em chúng ta. Ngài trước hết
và trên hết là Đấng chỉ biết đi tìm cứu độ và nâng chúng ta chỗi dậy khỏi quá
khứ lầm lỗi. Và nhất là, Ngài không bao giờ lẫn lộn chúng ta với tội lỗi của
chúng ta. Ngài mở ra cho chúng ta một con đường chân lí và sự sống. Chúng ta
không còn phải bận tâm hay bị ám ảnh bởi quá khứ đè nặng lương tâm chúng ta,
nhưng quyết tâm hướng tới tương lai mà Thiên Chúa mở ra cho chúng ta.
Trong
suốt mùa Chay nầy, Đức Ki tô đồng hành với chúng ta. Ngài ở đó “giữa cuộc đời
chúng ta. Ngài sai chúng ta đi bằng một một lời đầy hi vọng: “Hãy đi và từ nay
đừng phạm tội nữa”.
ĐÀO SÂU
ĐỪNG PHẠM TỘI NỮA
Is
43,16-21 Lời hứa ban cuộc xuất hành mới
Tv
126,1-2a, 2b-3, 4-5, 6 Chúa đã thực hiện những việc diệu kì nên chúng con mừng
rỡ hân hoan
Pl
3,8-14 Từ bỏ tất cả để ở với Đức Ki tô
Ga
8,1-11 Chúa Giê su khuyên người nữ phạm tội ngoại tình ‘đừng phạm tội nữa’
1. HỎI: Ba bài đọc liên kết
với nhau theo chủ đề nào?
THƯA: ĐỪNG PHẠM TỘI NỮA. Thiên
Chúa phán: các ngươi đừng nhớ lại những ngày xưa tháng cũ, nhưng hãy hướng về
phía trước (Bđ1). Chúa Giê su cũng bào người nữ phạm tội ngoại tình ‘đừng phạm
tội nữa’ (BTM). Và thánh Phao lô khuyên tín hữu của Ngài dứt khoát từ bỏ tất cả
quá khứ tội lỗi để ở với Đức Ki tô (Bđ 2)
2. HỎI: Sứ điệp chung của
ba bài đọc như thế nào?
THƯA: Cả ba bài đọc cùng đưa ra
một sứ điệp chung là hãy quên đi quá khứ, đừng lưu luyến nữa, đừng để điều gì cản
trở chúng ta tiến bước. Bài đọc một I-sai-a nói với dân lưu đày, trong bài Tin
mừng Chúa Giê su nói với người phụ nữ ngoại tình hãy cương quyết bỏ quá khứ lại
sau lưng và tin tưởng hướng nhìn về tương lai.
3. HỎI: Sách Đệ nhị
I-sai-a là sách gì?
THƯA: Bài đọc một trích từ sách
I-sai-a thứ hai gồm các chương 40 đến 55 thường được gọi là sách An ủi, do một
tác giả sống thế kỉ thứ 6 trong thời lưu đày ở Ba-bi-lon, từ năm 587 đến năm
538 trước Công nguyên sáng tác.
4. HỎI: Bài đọc một có nội
dung như thế nào?
THƯA: Trong bài đọc một, tiên
tri I-sai-a đã cố gắng khơi lên niềm hi vọng nơi những người đồng hương đang thất
vọng ê chề trong cảnh lưu đày. Ông cam đoan với họ rằng Thiên Chúa không từ bỏ
họ, trái lại, ngài đã chuẩn bị cho họ trở về cố hương. Dù họ chưa nhận thấy dấu
hiệu lạc quan nào, nhưng đó là một điều chắc chắn. Vì Thiên Chúa là đấng trung
thành với Giao Ước của Ngài, từ khi Ngài chọn dân, Ngài không ngừng giải thoát
họ và gìn giữ họ vượt qua mọi thăng trầm của lịch sử.
5. HỎI: Tại sao người lưu
đày chưa nhận thấy dấu hiệu lạc quan nào?
THƯA: Vì thực tế quá bi đát trước
mắt họ. Nabuchodonosor vua Ba-by-lon đã chiến thắng và lưu đày họ vẫn còn hùng
mạnh và không có đối thủ. Rồi nếu có ngày nào họ được tha trở về cố hương thì
làm sao vượt qua sa mạc dài hằng ngàn ki lô mét trong những điều kiện cực kì khắc
nghiệt và thiếu thốn.
6. HỎI: Tiên tri I-sai-a
cho thấy Thiên Chúa là đấng nào?
THƯA: Thiên Chúa là đấng đầy
quyền năng: ‘Đấng đã vạch một con đường giữa đại dương, một lối đi giữa sóng
nước oai hùng, Đấng đã cho xuất trận nào chiến xa chiến mã, nào tướng mạnh binh
hùng’ (Is 46,16-17)
7. HỎI: I-sai-a đã mô tả
thế giới mới như thế nào?
THƯA: Đối với I-sai-a đó là một
tạo dựng mới thật kì diệu. Những sa mạc hoang vu khô cháy trước kia giờ sẽ chằng
chịt những dòng sông xanh tươi. Và con đường của dân mới không còn trải dài dưới
sa mạc nóng cháy nữa, nhưng chỗ nào cũng được Thiên Chúa tưới mát. Người ta
không còn vừa đi vừa càm ràm như trong cuộc Xuất hành xưa nữa, nhưng sẽ vang tiếng
ca ngợi khen Thiên Chúa.
8. HỎI: Bài đọc 2 (Pl 3,
8-14) có nội dung như thế nào?
THƯA: Đối với Thánh Phao lô
Chúa Giê-su là quan trọng nhất, nên Ngài chỉ ao ước một điều là quên đi chặng
đường đã qua, để lao mình về phía trước. Vì thế Ngài đành mất hết, và coi tất cả
như rác rưởi để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người.
9. HỎI: Ngữ cảnh bài Tin mừng
(Ga 7, 53-8, 11) như thế nào?
THƯA: Đoạn văn này nằm trong phần
1 Tin mừng Gioan, tức là ‘Sách các Dấu lạ’của Chúa Giê su’, ch. 2–12. Trong lúc
Chúa Giê su có mặt tại Giê-ru-sa-lem bùng phát cuộc tranh luận giữa Ngài và người
Do thái, đặc biệt liên quan đến luật Mô-sê về việc cắt bì trong ngày sa-bát (7,
22-23) và việc một phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình (8,6a). Có các ý sau
đây:1. Khung cảnh (7,53-8,2);2. Nhóm Pha-ri-sêu, kinh sư và Chúa Giêsu trước
câu chuyện người phụ nữ (8,3-9); 3. Chúa Giêsu và người phụ nữ (8,10-11).
10. HỎI: Tại sao các thầy
thông giáo và người Pha-ri-sêu mang đến cho Chúa Giê su người phụ nữ, mà theo
luật Mô-sê, chắc chắn không thoát án tử hình?
THƯA: Họ hành động như thế chắc
chắn không nhằm mục dích xin Chúa Giê su soi sáng về một chi tiết nhỏ của Lề Luật,
nhưng là để xem Ngài có thái độ nào trước một trường hợp được Lề Luật xác định
rõ ràng. Câu 6 cho chúng ta thấy thái độ đạo đức giả hình của họ.
11. HỎI: Điều luật mà những
người Pha-ri-sêu đề cập đến được ghi trong sách nào?
THƯA: Trong sách Lê-vi 20,10: ‘Khi
người đàn ông nào ngoại tình với đàn bà có chồng, ngoại tình với vợ người đồng
loại, thì cả đàn ông ngoài tình lẫn đàn bà ngoại tình phải bị xử tử’ (x. Đnl
22,22- 24).
12. HỎI: Nhưng tại sao những
người Pha-ri-sêu muốn quan sát thái độ của Chúa Giêsu trước trường hợp cụ thể
này?
THƯA: Để kiểm tra sự tuân thủ của
Chúa Giêsu đối với Luật Mô-sê. Nếu họ thấy Chúa Giêsu thể hiện lòng thương xót
đối với những người tội lỗi, như đã từng cho thấy trong những dịp khác, người
Pha-ri-sêu sẽ cáo buộc Ngài trước Tòa công luận. Nói cụ thể, họ tìm một lý do để
buộc tội Ngài.
13. HỎI: Tại sao Chúa
Giêsu bắt đầu viết trên mặt đất?
THƯA: Một số nhà chú giải, dựa
trên lời giải thích của Thánh Hiêrônimô về câu: ‘Những kẻ quay lưng lại với
Ngài sẽ bị viết trên mặt đất’ (Gr 17,13), đã đưa ra cách giải thích sau đây: có
lẽ Chúa Giê su với quyền năng siêu phàm đọc được trái tim của con người, nên đã
viết ra trên mặt đất tội lỗi của họ. Ngày nay, giải thích như vậy không còn
đáng tin cậy bởi vì nếu Ngài đã không lên án người phụ nữ ngoại tình, thì cũng
đã không lên án những người đã đưa cô ta đến với Ngài. Trái lại, Ngài đã kêu gọi
người phụ nữ và cả những người kết án hoán cải.
14. HỎI: Lề Luật nói gì về
việc người đầu tiên phải ném đá trong một cuộc xử ném đá?
THƯA: Lề luật Do thái đòi hỏi
nhân chứng đã tố cáo và chứng minh tội lỗi của tội nhân là người đầu tiên ném
đá khi thi hành án xử tử: ‘Các nhân chứng phải là người đầu tiên tra tay giết
nó, rồi toàn dân tiếp tay sau’ (Đnl 17,7; x. 13,10).
15. HỎI: Nhưng Chúa Giêsu ở
đây có vẻ nhượng bộ hoặc thậm chí phủ nhận tội lỗi của người phụ nữ?
THƯA: Không phải như vậy, điều
Ngài muốn dạy là đừng bao giờ tự đặt mình làm thẩm phán người khác để lên án họ.
16. HỎI: Như vậy Ngài muốn
thiết lập một quy định mới về pháp luật?
THƯA: Không phải thiết lập một
qui định mới về pháp luật, mà là một chuẩn mực đạo đức cá nhân.
17. HỎI: Nhưng, tắt một lời,
Chúa Giêsu lên án những gì?
THƯA: Ngài lên án những người tỏ
ra là người nhiệt thành giữ Lề luật khi nói đến những người khác, nhưng chính bản
thân họ đã không quan tâm giữ gìn Lề luật.
18. HỎI: Chúa Giêsu, sau
đó bắt đầu viết trên mặt đất?
THƯA: Đúng, và Ngài làm như vậy
để những người tố cáo có thời gian suy nghĩ lời Ngài mời họ tự kiểm điểm về bản
thân mình. Ở đây người ta có thể thấy cách thức Thiên Chúa hành động đối với
con người. Ngài nói với chúng ta qua Kinh Thánh, Giáo Hội của Ngài, qua những
người khôn ngoan và công chính, qua các sự kiện cuộc đời của chúng ta và sau đó
dành cho chúng ta thời gian để suy tư, nhìn sâu hơn nội tâm chúng ta để tự do
đáp lại kế hoạch yêu thương của Người.
19. HỎI: Tại sao những người
lớn tuổi là những người đầu tiên rời khỏi nơi đó? Có phải vì họ có nhiều tội lỗi
hơn chăng?
THƯA: Rất có thể là nhờ hiểu biết
và có kinh nghiệm hơn nên họ nhận ra bài học của Chúa Giê su trước mọi người
khác, cảm thấy lời Ngài đánh động tâm hồn và đã sớm rời khỏi nơi đó.
20. HỎI: Lời Chúa Giê su
nói với người phụ nữ có mục đích gì (c.10)?
THƯA: Mục đích không chỉ là để
khơi lên cảm nhận của lòng biết ơn, mà là sự tin tưởng vào người đã giúp chị
thoát khỏi án tử hình.
21. HỎI: Với những lời:
‘Tôi cũng vậy, tôi cũng không lên án chị đâu’, Chúa Giêsu tự giới thiệu mình
như là tòa án tối cao?
THƯA: Chắc chắn là như thế, qua
những lời đó, chúng ta có thể thấy uy quyền tối cao của Chúa Giêsu Kitô. Ngài
không những không lên án, mà còn tuyên bố người phụ nữ được tự do thoát khỏi tội
lỗi và trừng phạt, nghĩa là ban cho chị sự tha thứ toàn diện hơn khi dùng lời lẽ
đầy cương quyết khuyên chị đừng phạm tội nữa.
22. HỎI: Chúa Giêsu phân
biệt rõ ràng giữa tội lỗi và tội nhân?
THƯA: Đúng, bởi vì khi cương
quyết lên án tội lỗi Ngài tỏ ra dịu dàng thương xót đối với tội nhân. Không giống
như chúng ta nhiều lần chỉ căn cứ vẻ bề ngoài rồi vội vàng lên án anh em mình.
Chúa Giê su thì khác, Ngài đọc trong tâm hồn mỗi người và biết rõ sự yếu đuối của
con người nên đã dùng mọi cơ hội và phương thế để tha thứ và xóa bỏ tội lỗi của
chúng ta.
23. HỎI: Thực thi Sứ điệp
Lời Chúa như thế nào?
THƯA: 1. Đừng tự hào mình là
công chính và muốn lên án kẻ khác.
2. Nhưng hãy như người đàn
bà tội lỗi, đến với Chúa mà thành thật xưng thú tội lỗi của mình, để được
thương xót, tha thứ và ban ơn đổi mới tâm hồn và đời sống.
3.
Và ra về với tinh thần đổi mới: ‘đừng phạm tội nữa’, để góp phần làm ra một tạo
dựng mới và một thời đại mới.
GLCG
827 ‘Trong khi Đức Kitô thật sự là Đấng ‘thánh thiện, vô tội, tinh tuyền’,
không hề biết đến tội, nhưng đến để đền các tội riêng của dân, thì, vì mang
trong lòng mình những kẻ tội lỗi, vừa thánh thiện vừa phải luôn được thanh tẩy,
Hội Thánh luôn tiếp tục việc sám hối và canh tân’. Tất cả các chi thể của Hội
Thánh, kể cả các thừa tác viên, đều phải nhận mình là kẻ tội lỗi. Trong tất cả
mọi người, cỏ lùng của tội lỗi còn lẫn lộn với lúa tốt của Tin mừng cho đến tận
thế. Vì vậy, Hội Thánh quy tụ những người tội lỗi đã được lãnh nhận ơn cứu độ của
Đức Kitô, nhưng còn đang trên đường thánh hóa. (X.Tạo vật mới qua phép rửa
1265-1266. Hậu quả của việc đền tội bí tích 1468-1470).