LỄ
HIỆN XUỐNG A

SỐNG! Được sống sung mãn và mãi
mãi! Đó là ước vọng bản năng của con người từ khi được tạo dựng. Tội lỗi đã
giam hãm con người khiến cho những cố gắng của họ thất bại. Mạc khải Ki tô giáo
khẳng định cuộc sống đích thực là Thánh Thần, là quà tặng ân sủng Thiên Chúa
ban cho chúng ta. Lễ Hiện Xuống, lễ của Thánh Thần đánh dấu điểm đến của Phục
sinh. Chính từ biến cố ấy mà Thiên Chúa bắt đầu việc tái tạo canh tân thế giới.
Sách Công
vụ 2, 1-11
Hiện Xuống là một điểm khởi hành.
Phần tiếp theo trong Công vụ các tông đồ nhằm mục đích cho thấy sự hiện diện
của Thánh Thần lan truyền bành trướng trong khắp thế gian. Qua đó, công việc
tái hợp nhận loại, được loan báo từ lâu, nay được thực hiện nhờ những tín hữu
được Tình yêu Thiên Chúa cảm biến.
Thánh
Vịnh 103
Người Do thái ca ngợi Thần Khí
Thiên Chúa, nguồn sự sống và thiên nhiên. Đối với người Ki tô hữu, Thần Khí ấy
là nguồn đích thực cho việc tái tạo thế giới phản ánh vinh quang Thiên Chúa.
Thư gửi
Côrintô 12, 3b-7.12-13
Các ơn ban và đặc sủng chỉ có nghĩa trong mức độ trợ giúp cộng đoàn tự
xây dựng trong tình yêu. Cũng vậy, các vai trò khác biệt không cho phép bất cứ
ai nghĩ mình ở trên người khác. Mỗi người có một vị trí không thể thay thế
trong một tổng thể hợp nhất bởi Thánh Thần nhằm qui tụ tất cả mọi người trong
Tình yêu.
Tin mừng: Ga
20, 19-23
NGỮ CẢNH
Trong bốn sách Tin Mừng, chóp đỉnh của các trình
thuật Chúa Giê su sống lại là việc Người hiện
ra cho nhóm Mười Một qui tụ ở một nơi. Dù cho hoàn cảnh và các chi tiết có
khác nhau, thì mối quan tâm vẫn luôn luôn là một: các tác giả đều nhấn mạnh đến sự thử thách của đức tin. Riêng đối
với Gioan trong câu chuyện về ông Tôma, tác giả đề cao sự tiến triển đức tin vào Chúa Giê su sống lại qua khung cảnh được
diễn ra trong hai giai đoạn. Và trình thuật khép lại với một vài khẳng định cốt
yếu: ơn ban Thánh Thần, ơn tha tội, sai đi truyền giáo, khẳng định của niềm tin
hoàn toàn vào Chúa Giê su, là Chúa và là Thiên Chúa.
Có thể đọc đọan tin mừng theo bố cục sau
đây :
1. Khung cảnh Chúa Giê su phục sinh hiện đến và
chúc bình an cho các môn đệ (20,19)
2. Các môn đệ vui mừng vì nhìn thấy Chúa (20,20)
3. Chúc bình an và sai đi (20,21)
4. Ban Thánh Thần (20,22)
5. Ban quyền tha tội và cầm buộc (20,23)
TÌM HIỂU
Vào chiều
ngày ấy:
bà Maria Mađalêna đi ra mồ từ
« sáng sớm » (20,1). Đối với nhóm Mười Một, một ngày dài
đã trôi qua trước cuộc hội ngộ nầy. Các cuộc hiện ra của đấng Phục sinh với các
môn đệ tuy xảy ra vào buổi chiều (6,16; 13-17), nhưng vẫn còn thuộc ngày thứ
nhất (20,1.26).
Các cửa đều
đóng kín:
niềm tin của Mađalêna đầy sự ngẫu hứng và yêu mến. Bà đi thẳng đến Chúa và đã
gặp được Ngài. Còn các môn đệ thì khác thì chưa hết « sốc » bởi nỗi
sợ hãi người Do thái; dù nghe những bước chân dồn dập của Phêrô và Gioan, họ
vẫn còn lẩn trốn trong nhà. Vì thế Chúa Giê su cần phải ban cho họ niềm xác tín
là Ngài đã sống lại. Các trình thuật nầy có lẽ phản ánh nỗi khó khăn mà Hội Thánh gặp phải: một vài
người mạnh dạn đến với Chúa, trong sự đơn sơ của niềm tin; trái lại một số khác
thì chậm chạp hơn vì nhiều thử thách mà cộng đoàn phải vượt qua.
Chúa Giê su
đứng giữa các ông:
« Đâu có hai hay ba người tụ họp
nhân danh ta, có ta ở giữa họ » (Mt 18,20).
« Bình
an cho anh em »:
lời chào được lặp lại ở câu 21. Đó là câu chào hỏi bình thường trong ngôn ngữ
sê mít. Tuy nhiên, bình an là một khái niệm giàu ý nghĩa bao hàm toàn bộ những
gì làm cho cuộc sống hạnh phúc. Sự bình an của thời đại cánh chung là ơn ban
quí giá nhất mà Thiên Chúa dành cho con người đã được các tiên tri báo trước.
Ơn trên được ban xuống là nhờ vào những nỗi khổ đau mà Người Tôi Tớ phải gánh
chịu: «Chính người đã bị đâm vì chúng ta
phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta
được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành »
(Is 53,5).
Khi Chúa Giê su xuất hiện ở giữa các môn đệ của
Ngài, không những Ngài cầu chúc, mà còn ban cho họ sự bình an (x.14,27; 16,33).
Sau nầy Phao lô sẽ nói về Đức Ki tô rằng: Ngài qui tụ các kẻ thuộc về Ngài
trong chính sự chết và sự phục sinh của Ngài: « Ngài là chính sự bình an của chúng ta » (Ep 2,14).
Xem tay và
cạnh sườn: như ở Lc 24,39, Chúa Giê su muốn liên
kết các nổi đau khổ mà Ngài đã chịu với cuộc phục sinh của Ngài, khi tỏ cho
thấy các vết thương của Ngài. Chỉ có Gioan nói, và nói ba lần (ở đây và cc,
25-27), đến vết thương cạnh sườn Ngài (x. 19,34-37).
Vui mừng: giờ đây mọi sự đã thay
đổi. Với sự phục sinh, lời cầu nguyện của Chúa Giê su dâng lên Cha đã được chấp
nhận: « Để họ được hưởng trọn
vẹn niềm vui của con » (Ga 17,l3).
Thầy cũng
sai anh em:
Chúa Giê su hiện ra với các môn đệ của Ngài không chỉ để gợi lại cho họ kí ức
về Ngài, nhưng còn để sai phái họ ra đi. Cả bốn tin mừng đều đồng qui về điểm
đó (Mt 28,19; Mc 16,15; Lc 24,47; x. Cv 1,8).
Sứ mạng đó là một trong những đối tượng của lời
cầu nguyện mà Chúa Giê su dành cho các môn đệ của Ngài (17,18). Và cũng nhằm
nối tiếp sứ mạng mà Ngài đã lãnh nhận từ nơi Chúa Cha. Chúa Giê su lặp lại
« Bình an cho các con ». Ra đi vào thế gian, họ mang theo mình sự
bình an của Thiên Chúa.
Thổi hơi: đối với Gioan, cử chỉ
nầy là dấu chỉ đưa đến một thực tại sâu xa hơn. Hơi thở mà Chúa Giê su khi sinh
thì, đã trao lại trên thánh giá (19,30) là hơi thở của Thiên Chúa, tức là Thánh
Thần. Ơn ban Thánh Thần đó được liên kết mật thiết với cái chết và sự phục sinh
của Ngài. Luca bố trí biến cố Thánh Thần hiện xuống năm mươi ngày sau (Cv
2,1-4), cũng đặt mối tương quan đó trong một lời Chúa Giê su hứa cho các môn đệ
vào chính ngày Phục sinh (24,49).
Với sự phục sinh Chúa Giê su, lịch sử cứu độ đạt
đến giai đoạn cuối cùng. Vào lúc khởi đầu: Thiên Chúa đã ‘thổi sinh khí’
(Stk 2,7) vào lỗ mũi người nam. Chúa Giê su phục sinh ngự tại trung tâm thế
giới mới, mà ngài đã tác sinh bằng cách thông truyền hơi thở của chính Thiên
Chúa để làm cho thế giới được sống.
Tha tội: sứ mạng truyền giáo bao
hồm việc tha tội (x. Lc 24,47). Từ đầu sách tin mừng Gioan đã xuất hiện một lời
mời gọi tiếp nhận sự sống ngang qua niềm tin vào Chúa Giê su; do đó, tội lỗi
căn bản chính là sự từ chối tin. Gia nhập vào cộng đoàn các tín hữu, những
người tin vào Chúa Giê su phục sinh, là xác nhận rằng tội riêng đã được tha
thứ.
Cầm giữ ai: tha thứ-cầm giữ chỉ là
hai mặt song đối của một tổng thể duy nhất là sứ mạng của Chúa Giê su hoàn toàn
hướng về ơn cứu độ (3,16-17; 5,20-30).
SỨ ĐIỆP
“Buổi chiều ngày phục sinh, các môn đệ đóng kín cửa vì sợ người do thái”.
Câu đầu tiên trong bài tin mừng mà chúng ta vừa nghe đặc biệt gây ấn tượng.
Ngày Chúa Giê su sống lại đối với họ là một ngày đầy căng thẳng và xáo trộn. Từ
khi Thầy bị bắt, nhất là từ khi chết trên cây Thánh giá, mọi hi vọng đều tan
biến. Họ nghĩ rằng không còn được nghe giọng nói quen thuộc của vị tiên tri Ga
li lê nữa, người đã loan báo cho họ Nước Trời đang đến. Họ không còn hi vọng được
thấy các phép lạ của Ngài nữa. Cái chết đã chấm dứt cuộc phiêu lưu kì thú mà họ
đã trải qua.
Thế mà Chúa sống lại hiện
ra với các bạn bè của họ. Sự sợ hãi nhường chỗ cho niềm vui. Cuộc phiêu lưu
hạnh phúc sẽ lại bắt đầu trên những nẻo đường Ga lli lê và Giu đê a chăng? Và
có phải đây là giờ thiết lập Vương quốc ở Israen không? Những lời Thầy nói thật
mầu nhiệm: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy
cũng sai anh em”. Và họ có hiểu ý nghĩa và tầm quan trong của câu nói theo
sau: “Ngài thổi hơi trên họ và bảo họ:
Hãy lãnh nhận Chúa Thánh Thần” không?”
Sách Công vụ kể lại cho
chúng ta nghe câu truyện tiếp theo: Vào buổi sáng ngày Hiện xuống, các tông đồ
và môn đệ kết thúc tuần cầu nguyện của họ. Những người mà sau cái chết của Chúa
Giê su chỉ nghĩ đến việc ẩn trốn, thì giờ ra giữa đám đông, lại mạnh dạn bắt
đầu rao giảng những điều kì diệu mà Thiên Chúa đã làm: “Ông Giê su người Na gia rét, con người được Thiên Chúa ủy thác bằng
các phép lạ ở giữa anh em, Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại”. Thật là một sự
thay đổi kì diệu nơi những người ấy! Thật thế, Chúa Thánh Thần là động cơ thúc
đẩy sám hối khiến cho đám đông phải sửng sốt.
Giáo hội của lễ Hiện xuống
là Giáo hội lớn tiếng tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Giê su phục sinh.
Bài giảng đầu tiên của Phê rô chúng ta đã biết: “Tất cả nhà Israel đều biết rõ rằng: Thiên Chúa đã phong làm Chúa và Đức
Ki tô cho ông Giê su mà anh em đã đóng đinh”.
Giáo Hội của Lễ Hiện xuống
đầu tiên là một Giáo Hội khao khát lời Thiên Chúa nuôi dưỡng họ, một Giáo hội
ra sức cầu nguyện, chăm chú vào giáo huấn của các tông đồ. Đó là Giáo hội của
tình yêu huynh đệ và chia sẻ, hiệp thông trong việc cử hành Thánh Thể.
Giáo hội chúng ta ngày nay
cũng là Giáo Hội của lễ Hiện xuống, mà Chúa Thánh Thần đã linh hoạt và nuôi
dưỡng, soi sáng và thanh luyện, củng cố trong những cuộc chiến đấu khó khăn
chống lại các thế lực sự dữ lầm lạc, dối trá, lôi cuốn của tất cả các thần
tượng và làm gẩy đổ mọi sự.
Giáo hội ngày nay lả Giáo
hội cố gắng thiết lập trên trần gian vương quốc của Chúa Giê su Ki tô không dựa
vào mãnh lực của tiền bạc hay uy tín nhưng bằng sự loan báo Lời Thiên Chúa,
Giáo hội tìm cách qui tụ gia đình nhân lọai trong một cộng đoàn rộng lớn sống
tình huynh đệ.
Giáo hội ngày nay là giáo
hội bênh vực con người, hình ảnh Thiên Chúa, Giáo hội sai các phần tử của mình
đến với mọi người anh em của họ, để mang lại nhiều công bằng hơn, nhiều tự do
hơn trong các mối tương quan xã hội, trong tổ chức trần thế, ngỏ hầu chương
trình cứu độ Thiên Chúa đề nghị cho chúng ta được thực hiện.
Giáo hội ngày nay không mất
viễn ảnh “trời mới đất mới” mà sách Khải Huyền gợi lên. Bổn phận của Giáo
hội nơi trần thế không che khuất bổn phận trên trời: “Nầy đây nơi ở của Thiên Chúa giữa con người. Thiên Chúa ở với họ sẽ là
Thiên Chúa của chúng. Sẽ không còn chết chóc, kêu là và sẽ không còn đau khổ
nữa, vì thế giới cũ đã biến mất”».
Giáo hội ngày nay ghi nhớ
lời Chúa Giê su: “Con người không chỉ
sống bằng cơm bánh, nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra. Hãy làm
việc không vì lương thực hư nát, nhưng vì lương thực tồn tại cho sự sống vĩnh
cửu”.
Dưới ánh sáng lời Chúa Giê
su, đã đến lúc chúng ta tự hỏi để chỉnh đốn lại: Các cộng đòan ki tô của chúng
ta có mang diện mạo của Giáo Hội ngày Hiện xuống không? Chúng ta có phải là
những ki tô hữu đầy lòng tin tưởng, chắc chắn về Chúa của mình không? Người ki
tô hữu có dạn dĩ công bố Tin mừng không? Người ki tô hữu có vui mừng chia sẻ
của cải vật chất và cả những của cải đức tin không? Tắt một lời, chúng ta có để
cho Thánh Thần hoạt động trong chúng ta không?
Chúng ta ngưỡng mộ Mẹ
Têrêxa Calcutta, thầy Phêrô và nhiều vị khác. Ở nhiều nước trên thế giới, người
ki tô hữu bị bách hại chỉ vì họ muốn sống theo lô gíc của đức tin. Chúng ta đã
gặp nhiều người thuộc đủ mọi tầng lớp sống đơn sơ trong cuộc sống hằng ngày,
nhưng nhiệt thành dấn thân cho người khác. Có những người ki tô hữu chiến đấu
cho hòa bình công lí, tự do, những người ki tô hữu quan tâm đến việc giải tỏa
những hiểu sai của người đương thời về Thiên Chúa.
Nhưng chúng ta cũng gặp
những người ki tô hữu lo sợ những đòi hỏi của Tin Mừng, những người ki tô hữu
bằng lòng trong lối mòn và tầm thường, tiếc nuối quá khứ, ẩn mình trong việc
chiêm ngắm Giáo hội của ngày hôm qua và không dám đảm nhận trách nhiệm của Giáo
hội ngày hôm nay. Chúa Giê su nói: “Dân
tộc nầy thờ kính Ta bằng môi miệng, nhưng lòng chúng xa cách Ta”.
Có khi nào chúng ta khóa
kín tâm hồn lại để tránh tiếp xúc với những người không cùng ý tưởng với chúng
ta, những người không thuộc thế giới chúng ta không? Thế nhưng Chúa Giê su đòi
chúng ta yêu mến thù địch và làm ơn cho những kẻ ghen ghét chúng ta.
Thánh Thần biến đổi các
tông đồ. Ngài đã kéo họ ra khỏi pháo đài để ra đi rao giảng Tin mừng Cứu độ.
Chúng ta hãy để cho Ngài biến đổi. Hãy mở rộng thần trí và tâm hồn đón nhận hơi
thở của Ngài để hiểu rõ hơn sứ điệp của Chúa Giê su, ngỏ hầu yêu mến anh em
mình hơn và loan báo cho họ Tin mừng với một niềm đam mê mà không gì có thể
ngăn cản được.
ĐÀO SÂU
HÃY NHẬN LẤY
THÁNH THẦN
Cv 2,1-11 Chúa Thánh Thần ngự xuống
trên các môn đệ
Tv 104,1 Lạy Chúa, xin sai Thánh
Thần Chúa đến để canh tân mặt địa cầu !
1Cr
12,3-7.12-13 Thần khí Đức Ki tô làm
cho Hội Thánh nên một
Ga
20,19-23
Đức Giê su phục sinh ban Thần khí cho các Tông đồ
1. HỎI: Các
bài đọc được liên kết theo chủ đề gì?
THƯA: HÃY NHẬN LẤY THÁNH THẦN.
Như lời Đức Giê-su đã hứa (BTM) Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên các môn đệ
vào ngày lễ Ngũ tuần (Bđ1) để khai sinh và qui tụ Hội Thánh nên một (Bđ2).
2. HỎI: Nội
dung bài đọc một (Cv 2,1-11)
như thế nào?
THƯA: Bài đọc thứ nhất trích từ
sách Công vụ (2,1-11), tác phẩm thứ hai của Thánh Lu-ca, kể lại biến cố Chúa
Thánh Thần hiện xuống trên các môn đệ vào ngày lễ Ngũ tuần.
3. HỎI: Đâu
là bối cảnh của cuộc Hiện xuống?
THƯA: Đó là Thành Giê-ru-sa-lem
và lễ Ngũ tuần. Thành Thánh Giê-ru-sa-lem là thành của ơn ban Thánh Thần: đó
không chỉ là nơi Đức Giê-su thiết lập bí tích Thánh thể, nơi Ngài sống lại, mà
còn là nơi Thánh Thần được ban xuống cho nhân loại. Vào thời Đức Giê-su, lễ Ngũ
tuần của Do thái giáo rất quan trọng: đó là lễ kỉ niệmn ơn ban lề luật, một
trong ba lễ lớn trong năm mà người ta phải hành hương về thành Giê-ru-sa-lem.
4. HỎI: Qua
trình thuật Hiện Xuống (Cv 2,1-11), Thánh Lu-ca muốn gợi lại ba bản văn nào của
Cựu Ước?
THƯA: Thánh Lu-ca muốn gợi lại
ba bản văn nầy: một là bản văn ban bố Lề luật trên núi Si-nai (Xh 19); hai là
lời của Tiên tri Giô-ên (Ge 3); và ba là câu truyện tháp Ba-bên (Stk 11,1-3)
5. HỎI:
Những dấu hiệu nào gợi lại bản văn ban lề luật trên núi Si-nai?
THƯA: Đó là lưỡi lửa, tiếng động
giống như một luồng gió mạnh, gợi nhớ lại những gì đã xảy ra ở trên núi Si-nai
khi Thiên Chúa ban lề luật cho ông Mô-sê (x. Xh 19).
6. HỎI:
Thánh Lu-ca có ý gì khi gợi lại biến cố Si-nai?
THƯA: Thánh Lu-ca muốn cho thấy
lễ Ngũ tuần nầy là một biến cố Si-nai mới. Cũng như Thiên Chúa đã ban lề luật
cho dân để dạy họ sống theo Giao Ước, thì từ nay Người ban Thần khí của Người
cho dân, như lời tiên tri Ê-dê-ki-ên loan báo: “Ta sẽ đặt trong tâm hồn chúng Thần khí của Ta, Ta sẽ dạy chúng đi theo
lề luật, tuân giữ và thực hiện các điều luật của ta, chúng sẽ là dân ta và ta
sẽ là Thiên Chúa của chúng”. Từ nay luật Thiên Chúa được ghi khắc trong tâm
hồn chứ không còn trên những phiến đá nữa như xưa nữa.
7. HỎI: Điều
gì cho thấy Thánh Lu-ca muốn gợi lại lời sấm Gio-ên?
THƯA: Tiên tri Gio-ên loan báo:
“Ta sẽ đổ thần khi của Ta trên mọi xác
phàm” (Ge 3,1). Nên sự kiện nhiều dân tộc khác nhau hiện diện ở
Giê-ru-sa-lem cũng như việc người Do thái từ khắp nơi đổ về Giê-ru-sa-lem dự lễ
cho thấy lời sấm Giô ên đã được hoàn tất.
8. HỎI: Tại
sao Thánh Lu-ca muốn gợi lại câu truyện về tháp Ba bên?
THƯA: Câu chuyện về ngày Ngũ
tuần trong Lu-ca theo sát đường hướng câu chuyện tháp Ba-bên: ở Ba-bên, nhân
loại đối đầu trước sự khác biệt, còn ở ngày lễ Ngũ tuần, họ học được sự duy
nhất trong sự khác biệt: từ nay, mọi dân tộc đều đồng ý công bố sứ điệp duy
nhất về những điều kì diệu của Thiên Chúa bằng các ngôn ngữ của họ.
9. HỎI: Nội
dung bài đọc 2 (1Cr 12,3-7.12-13) như thế nào?
THƯA: Thánh Phao-lô khẳng định
Chúa Thánh Thần đổ tràn nhiều ơn khác nhau cho các tín hữu để làm cho họ nên
một cộng đoàn, một thân thể hiệp nhất, yêu thương và phong phú trong phục vụ và
hoạt động.
10. HỎI: Ngữ
cảnh bài tin mừng (Ga 20,19-23) như thế nào?
THƯA: Bài tin mừng nằm trong
phần cuối tin mừng thánh Gio-an (20-21) kể lại việc Đức Giê-su phục sinh hiện
ra với các môn đệ sau khi sống lại (20,1-10) và hiện ra với bà Ma-đa-lê-na
(20,11-18). Có 2 ý chính: 1) Lời chào “bình an” đầu tiên và Đức Giê-su chứng
mình Ngài đã sống lại (20,19-20); 2) Lời chào “bình an” thứ hai và Đức Giê-su
trao ban sứ mạng và trao ban Thánh Thần cho các môn đệ (20,21-23).
11. HỎI: Các
cửa đều đóng kín, nhưng Đức Giê-su vẫn đến được, cho thấy gì?
THƯA: Cho thấy rằng Ngài đang
sống trong một điều kiện thể lí khác hẳn trước, thân xác phục sinh của Ngài
không còn bị ràng buộc bởi các định luật vật lí như chúng ta.
12. HỎI: “Nơi các môn đệ ở” là nơi nào?
THƯA: Có lẽ Gio-an nghĩ đến một
căn phòng ở Giê-ru-sa-lem, và dường như đây cũng chính là nơi các môn đệ ở khi
Maria Ma-đa-lê-na đến tìm các ông (20,18).
13. HỎI: Tại
sao Đức Giê-su chúc các tông đồ hai lần: “Bình
an cho các con”?
THƯA: Vào chiều Phục sinh, Đức
Giê-su tỏ mình ra cho các tông đồ và hai lần chào chúc bình an cho họ. Giữa hai
lần chào chúc, Ngài tỏ cho thấy các dấu tích của cuộc Khổ nạn. Qua đó, Ngài
muốn nói rằng bình an Ngài ban không giống bình an của người đời. Trái lại đó
là thứ bình an đích thực, được mua lấy bằng chính máu của Ngài trong cuộc Khổ
nạn. Niềm vui và bình an Ngài ban là kết quả của cuộc Khổ nạn ấy.
14. HỎI: Tại
sao Đức Giê-su thổi hơi vào các ông khi trao ban Thánh Thần?
THƯA: Cũng như Thiên Chúa đã
thổi hơi sự sống cho con người đầu tiên (Stk 2,7; Kn 15,11), Đức Giê-su thổi
hơi ban Thánh Thần tái tạo họ để trao ban cho sứ mạng dẫn đưa người khác đến
với nguồn sự sống mới.
15. HỎI: Như
thế, các môn đồ được Đức Giê-su trao ban Thánh Thần hai lần, một lần chiều ngày
Phục sinh (theo Gio-an) và một lần nữa vào dịp lễ Ngũ tuần (Cv 2,1-4)?
THƯA: Hai sự việc được Gio-an và
Lu-ca tường thuật thật ra không phải hai lần trao ban Thánh Thần khác nhau,
nhưng là hai cách diễn tả cùng một biến cố.
16. HỎI: Có
mối liên hệ nào giữa ơn ban Thánh Thần và sứ mệnh truyền giáo không?
THƯA: Có. Sứ mạng truyền giáo
đòi phải có một cuộc biến đổi sâu xa nơi các môn đệ, để họ có thể đảm nhận công
việc siêu phàm mà Đức Giê-su trao ban cho họ. Chỉ có Thánh Thần mới có khả năng thực hiện cuộc sáng tạo mới ấy.
Nhờ Ngài các môn đồ được hiến thánh cho sứ mạng như Đức Giê-su đã được ‘hiến
thánh và được sai đến trong thế gian’ (x.10,36; 1.33..)
17. HỎI:
Quyền tha và cầm tội được trao ban cho các môn đệ nói lên điều gì?
THƯA: Truyền thống Công Giáo vẫn
coi những lời Đức Giê-su trao ban cho các môn đệ quyền tha và cầm tội là lời
thiết lập bí tích cáo giải. Từ nay, các môn đệ được ban cho quyền tha thứ tội
lỗi để giao hòa tội nhân với Thiên Chúa.
18. HỎI: Ơn
ban Chúa Thánh Thần có cần cho việc hình thành Giao Ước mới giữa Thiên Chúa và
loài người không?
THƯA: Rất cần. Chúa Thánh Thần
sẽ đưa Giáo Hội vào chân lí toàn diện, nghĩa là giúp cho loài người hiểu biết
Thiên Chúa một cách đúng đắn hơn. Con người tự sức mình không thể nào vươn tới
chân lí toàn diện ấy được, phải có ơn ban Thánh Thần Chân lí, như lời sấm Tiên
tri I-sai-a: “Ta sẽ ban cho chúng một tâm
hồn để nhận biết rằng chính Ta là Đức Chúa. Chúng sẽ là Dân của Ta, còn Ta, Ta
sẽ là Thiên Chúa của chúng” (Gr 24,7).
19. HỎI:
Sách Công vụ của thánh Lu-ca thì đặt việc Chúa Thánh Thần Hiện xuống trong ngày
lễ Ngũ tuần, còn tin mừng thánh Gio-an thì lại đặt việc Đức Giê-su ban Thánh
Thần vào chiều ngày Chúa sống lại, tại sao có sự khác biệt đó?
THƯA: Hai Thánh sử đi theo hai
đường hướng khác nhau trong việc thông truyền niềm tin cho các tín hữu. Thánh
Gio-an thì nhấn mạnh đến tính cách duy nhất của mầu nhiệm Phục sinh: Đức Giê-su
sống lại, được tôn vinh (lên trời) và ban Thánh Thần của Ngài cho Giáo Hội. Còn
Thánh Lu-ca thì lại chú ý đến huấn giáo bằng cách suy ngắm mầu nhiệm Phục sinh
trong ba cử hành khác nhau: Đức Giê-su sống lại, Đức Giê-su lên trời 40 ngày
sau, và Chúa Thánh Thần Hiện xuống 10 ngày sau đó. Phụng vụ đã theo đường hướng
nầy.
20. HỎI: Lễ
Hiện Xuống có phải là lễ tôn giáo quan trọng nhất không?
THƯA: Đúng là như vậy. Đó là lễ lớn nhất, vì nó chỉ ra con đường
cho tin mừng được loan báo trên tòan thế giới. Đó là lễ Truyền Giáo của Giáo
Hội công bố cho mọi dân biết rằng Thiên Chúa Ba Ngôi ba lần thánh là Tình yêu.
21. HỎI:
Nhưng theo Phụng vụ, thì lễ Hiện Xuống nói lên điều gì?
THƯA: Lễ Hiện Xuống là cao điểm
của các lễ mùa Phục sinh và cùng với lễ Phục sinh, là đỉnh cao của Năm Phụng
vụ. Đó là lễ của Thánh Thần và là lễ của Giáo Hội, là ngày sinh ra Giáo Hội. Nó
nhắc chúng ta nhờ đến sự hiện diện và hoạt động kì diệu của Chúa Thánh Thần
trong Giáo Hội và trong đời sống con người. Hơn bao giờ hết, nhân lọai có trách
nhiệm to lớn là không được dập tắc hay cản trở hành động nầy. Đức Gio-an
Phao-lô II nói trong thông điệp Redemptoris Missio rằng: “Chúa Thánh Thần là nhân vật chính của Sứ mạng Giáo Hội”.
22. HỎI:
Việc tắt nến Phục sinh có cho thấy Đức Ki-tô vắng mặt trong Giáo hội không?
THƯA: Không hẳn là như thế, dù
cho việc tắt nến Phục sinh được chỉ định trong ngày hôm nay, cho thấy một hình
thức hiện diện mới của Đấng Phục sinh trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần, giữa
các môn đệ và ngang qua các Ngài giữa mọi dân tộc.
23. HỎI: Sứ
điệp Lời Chúa như thế nào?
THƯA: 1. Đón nhận ơn ban Chúa Thánh Thần với tất cả lòng biết ơn và ý thức.
Và xin Ngài hãy dạy cho chúng ta biết:
2. Yêu mến và cộng tác với
Ngài bằng cách để Ngài hoạt động trong chúng ta.
3. Củng cố sự hiệp nhất
trong sự khác biệt.
4. Ý thức sứ mạng được sai
đi qua việc đọc, suy niệm Lời Chúa và cầu nguyện mỗi ngày, rèn luyện tâm linh,
thực thi các việc bác ái, từ bỏ và dấn thân.
GLCG 731 2623,767 1302. Việc
Thánh Thần tỏ hiện, được ban tặng và thông truyền như là ngôi vị Thiên Chúa vào
ngày lễ Ngũ Tuần, hoàn tất cuộc Vượt Qua của Đức Ki-tô : từ nguồn sung mãn của
Người, Chúa Ki-tô ban tràn đầy Thánh Thần cho mọi tín hữu (x.Cv 2,36).
732 244 672. Trong ngày lễ
Ngũ Tuần, mầu nhiệm Ba Ngôi Chí Thánh được mặc khải trọn vẹn. Kể từ ngày đó,
Vương Quốc được Đức Ki-tô loan báo, mở ra cho những ai tin nơi Người. Dù phận
hèn yếu đuối, các tín hữu được hiệp thông với Ba Ngôi Chí Thánh trong đức tin.
Thánh Thần đã đến và không ngừng đến để đưa thế giới vào "thời đại cuối
cùng", thời đại của Hội Thánh : Vương Quốc đã được thừa hưởng nhưng chưa
hoàn tất.