CHỦ NHẬT 6 PHỤC SINH A
Tuân
giữ các điều răn của Thiên Chúa

Giáo Hội là một cộng đòan được
Thần Khí Chúa Giê su nâng đỡ. Nhờ được thấm nhuần Thần khí ấy, tức là hiệp
thông vào sự giải thoát vĩnh cửu sung mãn, chúng ta không còn đơn độc, nhưng
đạt đến sự tự do nội tâm, được trở nên một “con người mới” sống trung tín với
Thiên Chúa. Đó chính là đi vào trong một xã hội mới hình thành từ sự kết hợp
giữa Thiên Chúa và con người.
Sách Công
vụ 8, 5-8.14-17
Dân Samari hoan hỉ đón nhận Phi
líp và trở về với Lời của Thiên Chúa. Gioan và Phê rô đi đến công trường để đặt
tay thông ban Thánh thần cho họ.
Thánh
Vịnh 65
Chính nhờ Thánh Thần mà Thiên
Chúa giải thoát chúng ta. Cùng với tòan thế giới, chúng ta hãy reo mừng Thiên
Chúa giải phóng đã đưa chúng ta đến sự sống. Ngài hiển trị muôn đời. Chúc tụng
Thiên Chúa đã không bác bỏ lời tôi cầu nguyện cũng không cất tình yêu của Người
ra khỏi tôi! Và ban cho tôi Thần khí là nguồn gốc mọi sự giải thoát đích thật.
Thư 1 Phê
rô 3, 15-18
Những người ki tô hữu tiên khởi bị vu khống và bị bách hại. Phê rô chỉ
cho họ thấy lối sống mà họ phải theo. Họ không bao giờ được phép từ bỏ việc làm
chứng đức tin của mình. Họ phải luôn luôn phản ứng một cách hiền hòa bằng cách
kính trọng các địch thù. Làm như thế, họ bắt chước Chúa Giê su trong cuộc khổ
nạn của Ngài. Dưới sự tác động của Thần khí Thiên Chúa, họ sẽ là nhân chứng của
Tình yêu Người, đấng cho mặt trời chiếu sáng người lành cũng như kẻ dữ.
Tin mừng : Ga 14,15-21
NGỮ CẢNH
Đoạn tin mừng nầy nằm trong diễn từ li biệt đầu
tiên của Chúa Giê su (13,31-14,31; diễn từ thứ hai: cc 15-16; diễn từ thứ ba:
c.17) sau khi đã rửa chân cho các môn đệ (13,1-20) và loan báo Giu đa phản bội
(13,21-30). Chúa Giê su trấn an các môn đệ đón nhận chuyến ra đi của Ngài, vì
Ngài hứa tỏ mình ra cho những ai yêu mến Ngài. Vấn đề là họ có nhìn thấy Ngài bằng
cặp mắt đức tin không?
Có thể đọc bản văn theo bố cục sau đây:
1. Thần khí Sự Thật đến (14,15-17)
2. Chúa Giê su đến ( 14,18-21)
TÌM HIỂU
Nếu anh em yêu mến Thầy: trong các tin mừng ít thấy
Chúa Giê su đòi hỏi các môn đệ yêu mến mình (x. Mt 10,37; Ga 8,42; 21,15-17).
Thông thường Ngài kêu gọi yêu thương người lân cận (13,35; 1 Ga 3,11-24 và
4,7-12; vv..).
Các điều răn: đây là lần đầu tiên mà từ
“điều răn” được dùng ở số nhiều và gán cho Chúa Giê su (x. từ nầy ở
14,21;15,10;1Ga 2,3).
Thầy sẽ xin Chúa Cha: chính Chúa Giê su là đấng
sẽ nhận từ Cha ơn ban Thánh Thần. Dâng lên Cha cuộc Khổ nạn và sự chết tạo
thành cốt lõi của lời cầu nguyện nầy. Khi xin Thánh Thần, Cha ban cho tất cả.
Khi ki tô hữu cầu nguyện, Thần khí của Chúa Giê su hoạt động để kêu Thiên Chúa
là “Abba, Cha ơi” (Rm 8,15) và Chúa
Giê su “hằng sống để chuyển cầu cho chúng
ta” (Hr 7,25).
Đấng Bào Chữa (Bảo Trợ): đây là vai trò của người
bảo trợ và bênh vực bị cáo trước tòa án. Nên có thể dịch là Trạng sư.
Tước hiệu trạng sư do chính Chúa Giê su tự gán cho
mình trong 1 Ga 2,1: “Nếu có ai phạm tội,
chúng ta có một trạng sư (một người bào chữa) bên Cha: Chúa Giê su đấng công
chính”. Nhưng ở đây Chúa Giê su hứa một “đấng khác”. Bào chữa có nghĩa là
Thánh Thần sẽ tiếp tục trong Giáo Hội vai trò trợ giúp mà Ngài đã thực hiện nơi
những kẻ thuộc về Ngài.
Thần khí sự Thật: được gọi như thế trong
các câu 15,26 và 16,13 trong khi ở câu 14,27 thì gọi là Thánh Thần. Thánh Thần
chia sẻ với Chúa Giê su sự Thật (14,6), bởi vì Người biết Chúa Giê su và chương
trình của Thiên Chúa về thế gian. Người đã hoạt động trong và nơi các môn đệ, bởi
vì họ đã có một mức độ đức tin nào đó. Người không phải là người xa lạ đối với
họ, trong khi thế gian, vì chấp nhận sự dối trá và bị giam cầm trong sự ác,
không thể nhận biết Người. Những gì mà Đấng Bảo trợ thực hiện nơi các môn đệ
Chúa Giê su, sẽ bành trướng ra trong tòan lịch sử Giáo Hội.
Mồ côi: khẳng định nầy cho thấy
tấm lòng của Chúa Giê su; sự hiện diện của Ngài bảo đảm tình yêu của Cha đối với
họ. Việc Ngài chỉ vắng mặt trong một thời gian ngắn. và Thánh Thần mà Ngài sẽ gửi
đến biến họ thành những người con thực sự của Thiên Chúa.
Thầy sống: trong con mắt thế gian,
Chúa Giê su sẽ biến mất, nhưng các môn đệ của Ngài sẽ được diễm phúc lại nhìn
thấy Ngài, không chỉ khi Ngài hiện ra với họ, mà trong tất cả hoạt động của
Ngài trong Giáo Hội.
Và anh em cũng sẽ được sống: ở đây Ngài không chỉ nói
đến đời sống nhân lọai trong thời gian, mà còn bao hàm cả đời sống vĩnh cửu
phát xuất từ Đấng Sống lại trong Giáo Hội của Ngài: Nước hằng sống, bánh sự sống, Sự Sống.
Anh em ở trong Thầy: chúng ta đã nghe nói rằng
Cha ở trong Con và Con ở trong Cha (10,38; 14,10.11). Đây là lần đầu tiên Chúa
Giê su khẳng định các môn đệ của Ngài và toàn thể Giáo hội được dẫn đến hiệp
thông thần linh nhờ tương quan của họ với Chúa Giê su.
Sẽ tỏ mình ra: Gìn giữ các giới răn một
cách trung thành là cách nói mô tả chính tình yêu của người môn đệ đối với Chúa
Giê su. Khi yêu mến anh em mình, người môn đệ đi vào trong chuyển động tình yêu
Thiên Chúa, và ai yêu mến Chúa Giê su sẽ được Ngài tỏ hiện.
SỨ ĐIỆP
Sống đức tin trong một thế giới tục hóa hiện nay
không hề dễ dàng. Người ki tô hữu bị tấn công từ nhiều phía, khiến họ nhiều khi
không biết phải chống đỡ như thế nào. Nhiều khó khăn khiến chúng ta nản lòng và
muốn bỏ cuộc. Chúng ta có cảm tưởng mình đơn độc đi ngược giòng con nước lớn
đang muốn cuốn trôi và nhận chìm tất cả.
Bài tin mừng hôm nay là một lời đáp trả cho tất cả
các băn khoăn lo lắng đó. Chúa Giê su đến với chúng ta. Ngài hiện diện ngay
giữa cuộc đời chúng ta. Trước lúc “vượt qua khỏi thế gian nầy để về cùng Cha”,
Ngài hứa với chúng ta “Một đấng Bào Chữa khác”. Đó là Thánh Thần chân lí mà Cha
gởi đến cho chúng ta. Tin mừng thánh Gioan gọi là “đấng Bào chữa” có nghĩa là đấng bênh vực.
Trong thế giới do thái, người bào chữa là nhân vật ở giữa quan tòa và bị cáo,
tìm cách để Tòa ngưng việc kết án. Bị cáo được giải thoát nhờ sự đảm bảo cũng
như dựa vào tiếng tăm không ai có thể nghi ngờ của ông.
Thánh Thần là đấng Bào Chữa chúng ta, can thiệp
khi chúng ta bị cáo nhân danh Tin mừng. Ngài can thiệp như một luật sư bênh vực
chúng ta. Là Đấng Bào Chữa, chính Thiên Chúa tình yêu luôn sẵn sàng khuyên bảo,
an ủi và nâng đỡ khi chúng ta gặp khó khăn trong cuộc sống. Ngài không ngừng
giúp chúng ta hướng tới phía trước và giải thoát chúng ta.
Trong bài đọc thứ hai, thánh tông đồ Phê rô nhắc
chúng ta nhớ phải luôn luôn sẵn sằng “trả
lẽ cho niềm hi vọng của chúng ta”. Được sai đi để sống Tin Mừng và loan báo
trong một môi trường thù nghịch và dửng dưng, thường chúng ta có cảm tưởng bị
tước đoạt hết mọi sự trước nguy cơ buông xuôi thất vọng.
Chính lúc đó, khi mọi sự theo chiều hướng xấu,
chúng ta được mời gọi kêu cầu Chúa Thánh Thần. Sự xấu dồn ép chúng ta không chỉ
đến từ người khác, mà còn đến từ những yếu hèn và cám dỗ trong chúng ta. Chúng
ta cũng cần được bảo vệ chống lại tất cả những gì làm chúng ta lìa xa Đức Ki tô
và tin mừng.
Vì thế, đây là một lời mời gọi cho từng người
trong chúng ta, hãy cầu nguyện với Thánh Thần. Có lẽ chúng ta không có thói
quen đó. Thế nhưng, Chúa Giê su nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hiện diện kì diệu
ấy trong cuộc đời chúng ta. Ngài là Thánh Thần bảo vệ. Đó là một sứ điệp hi vọng
vô cùng to lớn mà Chúa Giê su đã để lại cho chúng ta. Thánh Thần Thiên Chúa ở
trong chúng ta để giúp đỡ chúng ta đứng vững trước mọi thử thách. Người ban sức
mạnh và can đảm giúp chúng ta làm trọn chứng tá đã được giao phó.
Thánh Thần ấy đã được ban xuống để đến lượt mình,
chúng ta cũng trở thành những người bảo vệ anh em chúng ta. Họ rất nhiều chung
quanh chúng ta và trên thế giới cần được bảo vệ trong cụôc sống, phẩm giá và
danh dự của họ. Theo Đức Ki tô và cùng với Ngài, chúng ta được mời gọi đứng về
phía những người đau khổ, nạn nhân của bất công, những người không được bảo vệ.
Điều đó có nghĩa là chúng ta làm mọi sự trong khả năng để bảo vệ sự sống. Chúng
ta cứu giúp người bị áp chế, kẻ yếu đuối, kẻ bị mọi người bỏ rơi. Thánh Thần đến
nhắc cho chúng ta điều răn yêu thương, để chúng ta không quên những nạn nhân bị
vu khống, gian ác, bạo lực và ghen ghét.
Tất cả những điều ấy được thực hiện qua những cử
chỉ và lời nói rất đơn giản mà mỗi người đều có thể thực hiện: phục vụ người
đang gặp khó khăn, để thời giờ để lắng nghe người đang cần và tìm sự tin tưởng.
Chúng ta hãy nhớ lại lời Chúa Giê su nói: “Những
gì mà anh em làm cho một trong những kẻ nhỏ nhất, đó là anh em làm cho chính
chính Thầy (Mt 25).
Cuối cùng, có một phương thế khác giúp đỡ những
người được giao phó cho chúng ta, đó là cầu nguyện. Chính trong sự gặp gỡ, trò
chuyện thân mật với Chúa mà chúng ta khám phá ra rằng mọi người đều liên đới và
ràng buộc để giúp đỡ lẫn nhau. Chúa Thánh Thần gợi lên lời cầu nguyện giúp đỡ
chúng ta càng ngày càng hiệp thông với Thiên Chúa và với tất cả các anh em
khác.
Không bao lâu nữa, Giáo Hội mừng lễ Thăng Thiên và
Hiện Xuống. Chúng ta sẽ được mời gọi nhận lãnh Thánh Thần và đáp lại tình yêu của
Đức Ki tô đã tự híến đến cùng để cứu độ trần gian. Chúng ta hãy cầu xin Ngài đến
biến đổi tâm hồn chúng ta, để cùng với Ngài chúng ta được sống và yêu thương
như Ngài đã sống.
ĐÀO SÂUTHÁNH THẦN SẼ NGỰ ĐẾN
Cv 8,5-17 Vùng Sa-ma-ri được đón nhận
Tin Mừng
Tv 66,1 Toàn thể trái đất hãy tung hô
Thiên Chúa
1Pr 3,15-18 Hãy làm nhân chứng niềm hi
vọng giữa trần gian
Ga 14,15-21 Thầy không để anh em mồ côi
đâu
1. HỎI: Các bài đọc được
liên kết theo chủ đề gì?
THƯA: THÁNH THẦN SẼ NGỰ ĐẾN. Đức
Giê-su hứa ban Thánh Thần đấng Bảo trợ và là Thần Chân lí cho các môn đệ (BTM),
là Đấng đã được ban xuống cho người Sa-ma-ri ngang qua việc đặt tay của Phê-rô
và Gio-an (Bđ1). Phê-rô nói về sứ vụ Vượt qua của Đức Giê-su (Bđ 2).
2. HỎI: Bối cảnh bài đọc một
(Cv 8,5-17) thế nào?
THƯA: Sau khi ông Tê-pha-nô bị bắt
và bị ném đá (Cv 7), cuộc bách hại người tín hữu gốc Hi lap bùng phát dữ dội tại
Giê-ru-sa-lem khiến các tín hữu phải phân tán khắp nơi. Nhưng chính nhờ bị bách
hại mà Tin mừng có cơ hội bành trướng ngoài thành Giê-ru-sa-lem như trường hợp
ông Phi-líp đã đem tin mừng đến cho dân Sa-ma-ri.
3. HỎI: Người Sa-ma-ri có
liên hệ gì với người Ít-ra-ên không?
THƯA: Người Sa-ma-ri là dân tộc
lai căng, tôn giáo hỗn tạp, thường bị người Do thái khinh miệt. Tuy nhiên việc
họ là những người đầu tiên đón nhận tin mừng ngoài Giê-ru-sa-lem không phải là
một điều ngẫu nhiên. Nó cho thấy bước thứ hai trong sứ vụ truyền giáo được thực
hiện, đúng theo lệnh truyền của Đức Giê-su: “Anh em hãy là chứng nhân của Thầy ở Giê-ru-sa-lem, vùng Giu-đê và
Sa-ma-ri, và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).
4. HỎI: Cuộc bách hại do
đâu mà có?
THƯA: Bởi việc những người Do
thái không tin vào Đức Giê-su tấn công anh em mình đã trở lại Ki tô giáo. Ông
Tê-pha-nô bị những người Do thái Hi lạp tố cáo với nhà cầm quyền Giê-ru-sa-lem,
nên bị bắt và bị hành hình.
5. HỎI: Cuộc bách hại nhắm
đến những người nào?
THƯA: Cuộc bách hại mãnh liệt
không nhắm vào những người Do thái Híp pri, tức là những người Do thái gốc
Pa-lét-tin hay Giê-ru-sa-lem nói tiếng Híp-ri ở Hội đường và tiếng A-ra-mây ở
ngoài, nhưng chỉ nhắm vào những người Do thái Hi lạp, tức là những người Do
thái gốc từ các cộng đoàn nước ngoài trong lãnh thổ đế quốc La mã, nói tiếng Hi
lạp. Vì thế, họ phải phân tán đi khắp nơi. Nhưng nhờ đó mà tin mừng được rao giảng
trong các thành phố miền Giu-đê và Sa-ma-ri.
6. HỎI: Ông Phi-líp là ai?
THƯA: Ông Phi-líp là một trong bẩy
nhân vật có tiếng tốt được Hội Thánh chọn lựa và cắt đặt lo việc phục vụ lương
thực cho các bà góa. Họ phụ trách công việc ấy để giúp nhóm Mười Hai có thời giờ
chu toàn việc rao giảng Lời và phục vụ Hội Thánh.
7. HỎI: Ông Phi-líp làm gì
ở Sa-ma-ri?
THƯA: Thay vì lẩn trốn những kẻ
bách hại, Phi-líp đã mạnh dạn rao giảng Danh Đức Giê-su đồng thời vẫn tiếp tục
liên lạc với các Tông đồ ở Giê-ru-sa-lem. Vì thế, các Tông đồ đã gửi Phê-rô và
Gio-an đến xác nhận việc truyền giáo mà Phi-líp đã thực hiện.
8. HỎI: Nội dung bài đọc 2
(1Pr 3,15-18) như
thế nào?
THƯA: Thánh Phê-rô nói về ơn gọi
tông đồ của mỗi tín hữu. Ngài mời gọi họ hãy sẵn sàng trả lời về niềm hi vọng
nơi họ. Nhờ sự phục sinh của Đức Ki-tô, người tín hữu được tái sinh trong niềm
hi vọng được kết hiệp hoàn toàn với Thiên Chúa, một cuộc kết hiệp dứt khoát sau
khi chết.
9. HỎI: Bối cảnh bài tin mừng
(Ga 14,15-21) như thế nào?
THƯA: Bài tin mừng là trích đoạn
diễn từ của Đức Giê-su ban cho các tông đồ trong bữa tiệc li sau khi rửa chân
cho các ông. Đức Giê-su loan báo Ngài sẽ lìa bỏ các môn đệ để về với Cha
(13,1.33). Ngài nói về Chúa Cha và mối giây nối kết Ngài với Cha, từ nay nối
dài đến các môn đệ. Đó là một liên kết bền vững mà không ai có thể phá hủy được.
Có 2 ý chính: 1) Thần Khí sự thật đến (14,15-17); 2) Đức Giê-su đến (14,18-21).
10. HỎI: Đức Giê-su có
loan báo việc Thánh Thần sẽ đến không?
THƯA: Có, vào lúc sắp rời các
môn đệ, Đức Giê-su loan báo Thánh Thần chân lí đến ngự trong tâm hồn họ, để cho
thấy ngày trọng đại kí kết giao ước mới đã đến, như lời tiên tri Ê-dê-ki-ên
loan báo (x. Ed 36,26).
11. HỎI: Tại sao Ngài nói
rằng thế gian không thể lãnh nhận Thần khí sự thật?
THƯA: Đức Giê-su không hạn chế
ơn ban Thánh Thần, nhưng chỉ xác định một thực tại: thế gian không thể lãnh nhận
Thánh Thần vì họ không thấy và cũng không biết Người (14,17).
12. HỎI: Các môn đệ có nhận
ra Thánh Thần không?
THƯA: Có. Nhờ có đức tin các môn
đệ nhận ra sự hiện diện của Thánh Thần nơi họ: “Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em” (14,17b).
13. HỎI: Tại sao gọi Thánh
Thần là ‘Thần khí sự thật’ (17)?
THƯA: Thánh Thần được gọi là Thần
khí sự thật vì Người sẽ đem sự thật về Đức Giê-su vào trong tâm hồn, giúp người
tín hữu hiểu biết về mầu nhiệm, đời sống, giáo huấn của Đức Giê-su. Nhờ
đó, Người sẽ soi sáng các hoàn cảnh mới mà người tín hữu phải đương đầu.
14. HỎI: Đức Giê-su muốn
nói gì qua câu: “Chẳng bao lâu nữa thế
gian sẽ không còn thấy Thầy” (14,19)?
THƯA: Lời ấy loan báo cái chết của
Đức Giê-su, và đồng thời cũng báo trước cho các môn đệ sự ra đi của Ngài, vì
sau khi sống lại, Ngài không còn hiện diện như trước nữa.
15. HỎI: Như thế hoạt động
cứu độ của Đức Giê-su có chấm dứt không?
THƯA: Không. Việc ra đi của Đức
Giê-su không chấm dứt hoạt động của Ngài. Trái lại, nó sẽ mở rộng ra khắp nơi
và trở nên phổ quát với ơn ban Thánh Thần sẽ ngự trong tâm hồn các môn đệ. Vì Đức
Giê-su đã hứa: “Thầy sẽ không để anh em mồ
côi. Thầy đến cùng anh em” (14,18).
16. HỎI: Đấng bào chữa là
Đấng nào?
THƯA: Là người được gọi đến để
bênh vực cho bị cáo trước tòa án. Đó là người cố vấn, trạng sự, bênh vực và an ủi
trong vụ kiện mà thế gian chống lại các môn đệ Đức Ki-tô và qua họ, chống lại
Thiên Chúa Cha và Đức Ki-tô, nghĩa là chống lại chân lí.
17. HỎI: Việc giữ các giới răn phải được đặt trên
nền tảng nào?
THƯA: Được đặt trên tình yêu
đối với Đức Giê-su. Sự vâng giữ các điều răn và các lời khuyên Phúc âm phải bắt
nguồn từ một trái tim tràn đầy tình yêu chứ không phải vì sợ hình phạt. Lề luật
của Thiên Chúa không được coi như một áp lực đến từ bên ngòai đè bẹp và giới
hạn tự do của con người, nhưng đó là một thực tại ở bên trong bản tính nhân
loại và làm cho con người thực sự trở nên tự do.
18. HỎI: Sống Lời Chúa như
thế nào?
THƯA: 1.
Cuộc đời ki tô hữu là cuộc kết hiệp trong tình yêu: với Đức Ki-tô, với Thiên
Chúa Cha, với Chúa Thánh Thần và với các anh em tín hữu khác. Vì thế xin Chúa
Giê su uốn nắn trái tim của chúng ta nên giống trái tim quảng đại yêu thương
của Ngài, để trở nên chứng tá tình yêu cho người khác. 2. Nuôi dưỡng và tăng cường
tình yêu đối với Chúa Giê-su Ki-tô, đối với Thiên Chúa. Nuôi dưỡng và tăng
cường tình yêu ấy bằng/qua việc đọc, suy niệm Lời Chúa và cầu nguyện mỗi ngày;
việc chia sẻ Lời Chúa học hỏi và cầu nguyện Thánh Kinh; tham dự các buổi tĩnh
tâm, linh thao, các khóa huấn luyện tâm linh; thực hiện các việc bác ái, từ bỏ
và phục vụ tha nhân. 3. Hướng về Lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống bằng lời cầu
nguyện: Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến soi sáng và dạy dỗ chúng con sống sao
cho đẹp lòng Chúa.
GLCG
692 1433. Khi
Đức Giê-su loan báo và hứa Chúa Thánh Thần sẽ đến, Người gọi Thánh Thần là Đấng
"Bảo Trợ", theo nguyên ngữ là: "Đấng được gọi đến kề bên"
(Ga 14,16.26; 15,26; 16,7). "Đấng Bào Chữa" thường được dịch là
"Đấng An Ủi", vì Đức Giê-su là Đấng An ủi trước nhất (x.1Ga 2,1).
Chính Chúa Giê-su còn gọi Thánh Thần là "Thần Chân Lý" (Ga 16,13).
693. Ngoài danh xưng
"Chúa Thánh Thần", được dùng nhiều nhất trong sách Công Vụ Tông Đồ và
các Thánh Thư, ta còn thấy những cách gọi khác nơi thánh Phao-lô: Thần Khí của
Lời hứa (x. Gl 3,14; Ep 1.13), Thần Khí làm cho ta nên nghĩa tử (x. Rm 8,15;
Gl.4,6), Thần Khí của Đức Ki-tô (x. Rm 8,11), Thần Khí của Đức Chúa (x. 2 Cr
3,17), Thần Khí của Thiên Chúa (x. Rm 8,9.14; 15,19; 1 Cr 6,11; 7,40); và nơi
thánh Phê-rô: "Thần Khí vinh hiển" (1 Pr 4,14).
2466 2153 Nơi Đức Giê-su
Ki-tô, chân lý của Thiên Chúa được bày tỏ toàn vẹn. Đức Giê-su tràn đầy ân sủng
và chân lý (Ga 1,14), là " ánh sáng thế gian"( Ga 8,12), là "sự
thật"( x. Tv 119,30). "Ai tin vào Người thì không còn ở trong bóng tối"
(Ga 12, 46). Môn đệ của Đức Giê-su"ở trong lời Người", nhờ đó nhận biết
"chân lý giải thoát" (Ga 8, 32) và thánh hóa (x. Ga 14,6 ). Bước theo
Đức Giê-su là sống nhờ "Thánh Thần chân lý" (Ga 14,17) mà Cha gởi đến
nhân danh Người (x. Ga 17,17 ) và Thánh Thần sẽ dẫn đưa đến "chân lý toàn
vẹn" (Ga 16,13). Đức Giê-su dạy các môn đệ phải yêu mến chân lý vô điều kiện
: Trong lời ăn tiếng nói của anh em, "hễ có thì phải nói có",
"không thì phải nói không" (Mt 5, 37).