Suy Niệm Lời Chúa Chúa Nhật Tuần III Phục Sinh Năm B
LÀM CHỨNG VỀ MẦU NHIỆM PHỤC SINH CỦA CHÚA GIÊ-SU

I.HỌC
LỜI CHÚA
1.TIN
MỪNG: Lc 24,
35-48
(35) Còn hai ông thì thuật lại những việc
đã xảy ra dọc đường, và mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ
bánh. (36) Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giê-su đứng giữa các
ông và bảo: “Bình an cho anh em!”. (37) Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng
là thấy ma. (38) Nhưng Người nói: “Sao anh em lại hoảng hốt? Sao còn
ngờ vực trong lòng? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ
xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?”. (40) Nói
xong, Người đưa tay chân ra cho các ông xem. (41) Vì mừng quá, các ông
vẫn chưa tin và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi: “Ở đây anh em có
gì ăn không? (42) Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng. (43) Người
cầm lấy và ăn trước mặt các ông. (44) Rồi Người bảo: Khi còn ở với
anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách luật
Mô-sê, các sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải
được ứng nghiệm. (45) Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh
Thánh. (46) Và Người bảo: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Ki-tô
phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại, (47) và
phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ
Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. (48) Chính anh em
là chứng nhân của những điều này.
2.Ý
CHÍNH:
Bài
Tin Mừng của Thánh Lu-ca thuật lại sự kiện Đức Giê-su Phục Sinh hiện
ra lần thứ ba với các tông đồ tại nhà Tiệc Ly. Trước hết, Người
củng cố đức tin của các ông đang nhát sợ vì tưởng gặp ma, bằng cách
cho họ xem tay chân của Người bằng xương thịt, và Người còn ăn uống trước mặt các ông. Sau đó,
Người giúp các ông hiểu những lời Kinh Thánh tiên báo về cuộc khổ
nạn và sự Phục Sinh của Đấng Ki-tô đã được ứng nghiệm nơi Người.
Cuối cùng Người trao sứ mệnh cho các ông phải đi rao giảng sự ăn năn để
được ơn tha tội, và làm chứng nhân của Chúa về những điều mắt thấy tai
nghe.
3.CHÚ
THÍCH:
- C
35-36: + Còn hai ông: Đây
là hai trong số bảy mươi hai môn đệ của Đức Giê-su (x. Lc 10, 1). Một
trong hai ông tên là Cơ-lê-ô-pát (x. Lc 24, 18). + Nhận ra Chúa khi
Người bẻ bánh: Bẻ bánh
là cử chỉ của Đức Giê-su đã làm khi nhân bánh ra nhiều (x. Mt 14, 19 ;
15, 36), và trong bữa Tiệc Ly khi lập Bí Tích Thánh Thể (x. Lc 22, 19).
Nhờ cử chỉ bẻ bánh này mà hai môn đệ đã nhận ra người khách bộ
hành chính là Thầy Giê-su đã chết và giờ đây sống lại.+ “Bình
an cho anh em”: Là lời chào thông thường của người Do Thái
(Sha-lom!). Nhưng lời này còn bao hàm sự chúc lành của Thiên Chúa. Sau
khi sống lại, Đức Giê-su đã thực hiện lời Người hứa là ban bình an
cho các môn đệ: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban bình an của
Thầy cho anh em” (Ga 14, 27).
- C
37-39: + Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà !: Chân tay Đức Giê-su có những
vết thương do đã bị quân lính đóng đinh vào thập tự (x. Lc 23, 33). +
Ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?: Đức Giê-su Phục Sinh đã chứng
tỏ Người không phải hồn ma, khi cho các môn đệ xem Người có xương thịt
như mọi người.
- C
40-43: + Người đưa tay chân ra cho các ông xem: Cũng như trong
Tin Mừng Gio-an (x. Ga 20, 20), Chúa Phục Sinh đã chứng tỏ Người chính
là Đấng bị đóng đinh, đã chịu chết trên thập giá, mà nay sống lại
và đang đứng trước mặt các ông. + Các ông đưa cho Người một khúc
cá nướng, Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông: Xem ra các
vết thương ở tay chân vẫn chưa thuyết phục được các tông đồ tin Đức
Giêsu đã thực sự sống lại, nên Người cho họ có thêm một bằng chứng
Người không phải hồn ma, khi cầm lấy và ăn một khúc cá nướng trước
mặt các ông.
- C
44-45: + Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em: Đức
Giê-su tiếp tục cho các môn đệ có thêm bằng chứng về việc Người đã từ
cõi chết sống lại, bằng cách nhắc lại lời Kinh Thánh tiên báo đã
được ứng nghiệm nơi Người.. + Sách luật Mô-sê, sách các Ngôn Sứ
và các Thánh Vịnh: Ở đây, Lu-ca lại kể ra Sách Thánh gồm các
sách Luật Mô-sê, các sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh. * Sách
luật Mô-sê: Năm cuốn sách đầu của Thánh Kinh Cựu Ước, được xếp
thành bộ Ngũ Thư gồm: Sách Sáng thế, sách Xuất hành, sách Lê-vi,
sách Dân số và sách Đệ nhị luật. * Sách Ngôn Sứ: Ngôn
sứ là người được Thiên Chúa gặp gỡ rồi sai đến để thay Chúa nói với
dân Người, giúp dân Do Thái nhận ra lỗi lầm của họ, kêu gọi họ ăn năn
trở về với Giao Ước. Nhưng sứ mạng quan trọng nhất là tuyên sấm về
Đấng Mê-si-a (Thiên Sai) sẽ đến để ban ơn cứu độ. Bộ sách Ngôn sứ gồm
16 cuốn, trong đó có 4 Ngôn sứ lớn như: I-sai-a, Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en
và Đa-ni-en, và 12 Ngôn sứ nhỏ. Lớn hay nhỏ được phân biệt do các ngài đã
để lại lời sấm ngôn của Chúa nhiều hay ít * Thánh vịnh: Là bộ
sưu tập các bài thánh thi hay bài thơ tôn giáo từ thời Đa-vít đến thế
kỷ thứ III trước Công nguyên. Đây là kho tàng kinh nguyện của Dân Chúa
trong Cựu Ước cũng như Tân Ước. Có 150 Thánh vịnh đọc trong Giờ Kinh
Phụng Vụ và Đáp Ca trong Thánh lễ.
- C
46-48: + Chính anh em là chứng nhân của những điều này: Là
chứng nhân, nghĩa là loan báo Tin Mừng về những điều đã xảy ra trong
cuộc đời Đức Giê-su, từ khi chịu phép rửa của Gioan Tẩy giả, đến
cuộc tử nạn, sống lại và lên trời của Người. Đặc biệt các ông còn sẵn
sàng chịu chết để làm chứng cho những điều mình rao giảng là chân
thực vì chính các ông đã được tận mắt chứng kiến.
4.CÂU
HỎI: 1) Hai ông trong đoạn Tin Mừng này thuộc Nhóm 12 Tông đồ hay Nhóm
72 môn đệ ? 2) Đức Giê-su đã “bẻ bánh” mấy lần trong gần 3 năm giảng
đạo? Bẻ Bánh ám chỉ bí tích nào trong 7 phép bí tích do Đức Giê-su thiết
lập? 3) Lời chúc bình an của Chúa Phục Sinh có ý nghĩa thế nào? 4)
Tại sao các môn đệ lại kinh hồn bạt vía khi nhìn thấy Chúa Phục Sinh
hiện ra? 5) Chúa Phục Sinh đã nói và làm gì để các môn đệ khỏi bị sợ
ma và tin Người đã từ cõi chết sống lại? 6) Khi nói với các môn đệ
các bằng chứng về việc Người từ cõi chết sống lại, Chúa Giê-su đã
nêu tên các sách Luật Mô-sê, các sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh. Vậy
ba loại sách này là những sách gì? 7) Lệnh truyền hãy đi truyền giáo
gồm hai đặc tính quan trọng nào?
II.SỐNG
LỜI CHÚA.
1.LỜI CHÚA: Chúa phán: “Chính anh em là chứng nhân của
những điều này”(Lc 24,48).
2.CÂU
CHUYỆN:
1) ĐI
TRONG ÁNH SÁNG SẼ KHÔNG CÒN SỢ HÃI:
Một buổi tối nọ, trong căn
nhà ấm cúng của một bác nông dân, ông bố âu yếm đưa mắt nhìn đứa con trai với
vẻ hài lòng vì thấy con bắt đầu khôn lớn. Ông nghĩ đã đến lúc cậu con trai phải
ra chuồng ngựa một mình vào ban đêm để cho ngựa uống nước. Sau đó ông bảo con hãy
cầm đèn đi ra chuồng ngưạ một mình. Cậu con tỏ vẻ do dự thưa với cha:
- Bố ơi, con rất sợ bóng tối.
Con sợ phải đi một mình.
Nghe con nói thế, ông liền
đứng dậy tay
cầm cây
đèn và
dắt con đi ra hè trước
nhà. Ông thắp đèn lên đặt vào tay con và hỏi:
- Với đèn sáng này, con nhìn thấy
rõ đến đâu?
Cậu trả lời: con thấy rõ tới
nửa đường ra cổng.
Người cha bảo con hãy cầm đèn
đi ra tới đó. Khi cậu con tới nơi, ông hỏi với theo: từ chỗ đang đứng đó con
nhìn được tới đâu ?
- Con nhìn rõ tới cổng, cậu
đáp.
Ông giục cậu đi cổng. Từ cổng
cậu đã nhìn thấy chuồng ngựa, cậu nhìn thấy từng con ngựa. Từ hiên nhà, người
cha nói vọng ra:
- Con hãy đổ nước vào máng cho
ngựa uống rồi trở về nhà.
Cậu con làm theo và từ ngày
đó cậu không còn cảm thấy sợ hãi khi phải một mình ra chuồng ngựa mỗi đêm nữa.
Khi thiếu
niềm tin, người ta sẽ bị hoài nghi và sợ hãi. Cậu bé trong câu chuyện trên do thiếu
tự tin nên sợ ở trong bóng đêm. Khi sợ hãi người ta sẽ cảm thấy bất an và dễ tưởng
tượng bị ma quỷ hãm hại. Sợ hãi bóng tối là đặc tính của trẻ em. Can đảm thắng sự
sợ hãi bóng tối là dấu hiệu của một con người trưởng thành.
2) EM BÉ NGỦ YÊN TRONG VÒNG TAY CHA:
Một cậu bé 5 tuổi bị thức
giấc do tiếng sấm to trong một đêm giông tố. Cậu mở mắt thì thấy cảnh vật tối
tăm. Từng đợt gió rít lên tạo thành những âm thanh gầm rú như đang giận dữ như
muốn đạp đổ nhà cửa và cây cối. Cậu bé hốt hoảng cầu cứu cha:
- Ba ơi ! Con sợ quá !
- Ba đây ! Cậu nghe thấy có tiếng
cha từ xa vọng lại.
- Ba đang ở đâu mà sao con
không thấy ba ? Cậu giơ hai tay ra phía trước quờ quạng.
- Ba đây ! Người cha bước lại
gần và ngồi xuống bên con. Cậu ôm lấy cha, áp đầu vào
ngực cha. Người cha đã đỡ cậu nằm xuống và vỗ về cậu. Cậu bé yên lặng nắm lấy
bàn tay của cha và chìm dần vào giấc ngủ an lành. Bên ngoài mưa bão vẫn còn,
nhưng cậu không còn cảm thấy sợ khi ở trong vòng tay của Cha.
Trong
cuộc sống hằng ngày, Chúa Phục sinh vẫn luôn ở trong và gần bên chúng ta như
xưa Người vẫn luôn hiện diện bên các môn đệ. Người hằng mời gọi chúng ta tin
cậy phó thác mọi sự trong bàn tay quan phòng của Người. Dù đời còn nhiều giông
tố, nhưng nếu chúng ta vững tin và phó thác mọi sự trong tay Chúa quan phòng
thì sẽ được bình an.
3) BÀN TAY CHÚA
DẪN ĐƯA:
Trước khi hiến thân phụng
sự Chúa, thánh An-phong-sô là một luật sư tài ba lỗi lạc. Ngài rất nổi danh vì có
tài hùng biện và lý luận sắc bén, nên đã thành công trong nhiều vụ án hiểm hóc.
Nhưng một hôm, Chúa đã để cho Am-phong-sô bị thất bại : Trong một vụ án
đơn giản, dễ dàng chiến thắng, thế mà ngài lại thua thảm hại. Trước thất bại
cay đắng đó, An-phong-sô thấy như bầu trời sụp đổ. Danh tiếng phút chốc tan thành
mây khói. Uy tín cũng không còn được như trước. Cả một màn đen u ám phủ xuống
cuộc đời của ngài.
Không biết tìm an ủi ở
nơi nào khác, An-phong-sô đã chạy đến với Chúa, chìm đắm trong lời kinh cầu
nguyện. Nhờ ơn Chúa giúp, ngài đã lấy lại sự bình an cho tâm hồn. Ngài như nghe
thấy tiếng Chúa mời đi vào con đường mới để phụng sự Chúa. Từ đó, An-phong-sô đã
hiến thân trọn vẹn phục vụ Chúa. Ngài học làm linh mục, rồi lên chức giám mục
và thành lập một dòng tu lớn là dòng Chúa Cứu Thế. Sau này, khi nhìn lại quãng
đời đã qua, ngài đã hiểu rằng : Chính Chúa đã hiện diện trong những thất
bại và đã dùng những thất bại đau khổ để thanh luyện ngài nên khiêm nhường và tin
yêu phó thác. Chính bàn tay Chúa đã hạ ngài xuống khỏi danh vọng trần thế để đưa
vào trong vinh quang Nước Trời.
4) BÁC TÀI XẾ TẮC-XI LÀM TÔNG ĐỒ:
Một
vị linh mục sau chuyến đi du lịch Đài Bắc trở về đã thuật lại một
cách thức truyền giáo của một bác tài lái
xe tắc-xi
như sau:
“Ngày nọ, tôi đón tắc-xi
từ khách sạn đi trung tâm thành phố Đài Bắc mua sắm quà lưu niệm. Tôi
ngạc nhiên khi thấy trong xe có dán một tờ giấy ghi mấy dòng chữ như
sau: “Bạn có thể thấy một vài quyển sách về tôn giáo ở hộc bên hông
xe. Trong khi xe đang chạy, bạn có thể đọc sách và nếu thích, bạn có
thể mang sách đó theo khi rời khỏi xe mà không phải trả tiền mua
sách”. Tôi tò mò tìm hộc sách và thấy một chục cuốn sách mỏng
bằng tranh nội dung về cuộc đời Đức Giê-su in trên giấy trắng khá đẹp;
một ít sách truyện về các thánh và các danh nhân tôn giáo; một ít
cuốn là những câu chuyện về việc sống đức tin giữa đời thường...
Ngoài
ra, phía trên tấm kính chiếu hậu trước mặt tài xế cũng có một ảnh
Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nhỏ. Tôi mở lời hỏi anh tài xế:
- Này bác tài, xin vui
lòng cho tôi biết: Hành khách đi xe có ai quan tâm đến hộc sách đạo
của bác không?
- Ồ, có chứ! Có nhiều
người đã lấy ra xem, và có người cầm mang về nhà nữa.
Tôi hỏi tiếp:
- Bác có cảm tưởng gì
khi thấy người ta đọc sách do bác giới thiệu?
Tôi cảm thấy rất sung
sướng anh à! Anh biết không: tôi không có nhiều giờ để đi lễ nhà thờ.
Vì tôi phải luôn chạy xe kiếm sống. Do đó, đây là cách làm công tác
tông đồ của tôi. Tôi rất mừng vì có thể làm hai việc một lúc: Vừa
lái xe lại vừa rao giảng Tin Mừng mà không bị mất thêm thì giờ. Tôi
nghĩ rằng tôi đang làm một công việc thật tuyệt vời!”
Một số hội đoàn Công giáo Tiến hành cũng đã
phân phát cho các tài xế xe tắc xi ở Đài Bắc một tấm thẻ bọc
lát-tích treo trước mặt tài xế. Trên tấm thẻ ở mặt trước có in
hình cây Thánh Giá màu đỏ với dòng chữ: “Chúa đang cùng lái xe với
bạn”. Mặt sau là lời cầu của các tài xế như sau: “Lạy Chúa, khi con
lái xe, xin giúp con yêu mến tha nhân như chính bản thân con, để con
không làm gì gây thiệt hại cho bất cứ ai. Xin cho con giữ đức công
bình để không thu tiền cước xe quá giá, sẵn sàng trao trả đồ đạc
khách bỏ quên trên xe. Xin cho đôi mắt con được tinh tường, cho tay chân
con đuợc khéo léo để lái xe an toàn và tránh gây tai nạn. Xin cho tâm
trí con luôn bình an và thần kinh con luôn thoải mái. Xin đừng để con
lái xe khi uống rượu say không đủ tỉnh táo. Xin đừng để con nhiễm
thói cạnh tranh bất chính với các bạn đồng nghiệp. Và cuối cùng xin
Chúa giúp con luôn THƯỢNG LỘ BÌNH AN”.
3.SUY
NIỆM:
1) Chúa Phục Sinh mang lại niềm tin yêu giúp
vượt qua nỗi sợ hãi:
Tin Mừng hôm nay vừa kể lại:
ngay trong buổi tối Phục Sinh, đang lúc các tông đồ họp nhau trong nhà, các cửa
nhà Tiệc Ly đều đóng kín. Bất ngờ Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa các ông khiến các
ông hoảng hốt, tưởng mình thấy ma. Tuy nhiên, các tông đồ cho rằng mình thấy ma
chứ không phải Thầy đã sống lại. Vì vậy, Chúa Phục Sinh đã cho các ông sờ vào
thân xác mang thương tích của Người để xác định Người: “Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có
xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?”. Nói xong, Người giơ tay
chân ra cho các ông xem” (Lc 24,39-40). Và để giúp các ông vững tin hơn,
Đức Giê-su còn ăn một miếng cá nướng trước mặt các ông. Nhờ gặp Chúa mà các
tông đồ đã vững tin và không còn cảm thấy sợ hãi nữa.
Ngày
nay chúng ta cũng sẽ vững tin nếu gặp được Chúa trong thánh lễ, trong giờ kinh
tối gia đình hay những lúc cầu nguyện riêng tư. Hãy năng dự các buổi Hiệp Sống
Tin Mừng hằng tuần để dễ thực hành theo Lời Chúa dạy. Nhờ đó chúng ta sẽ không bị
ảo giác hồ đồ, nhưng sẽ nhận biết quyền năng của Chúa qua các biến cố may rủi giữa
đời thường.
2) Mầu nhiệm Phục Sinh mang lại niềm hân
hoan hy vọng:
Các môn đệ đã bị lung lạc đức
tin khi thấy Thầy Giêsu bị bắt bớ, bị giết chết đau thương trên cây thập gía, thì
giờ đây khi gặp Chúa Phục Sinh, các ông đã tìm lại được niềm vui hân hoan.
Đức Giê-su thường quở trách
các tông đồ về đức tin như sau: "Đừng sợ, hãy tin!"; "Vì sao sợ
hãi, hỡi những kẻ yếu tin?"; "Thầy đây, đừng sợ!"; "Dọc
đường hai ông nói chuyện gì với nhau mà buồn bã thế?”; “Hỡi những kẻ ngu dốt và
chậm tin?"... Nhưng “Các ông đã vui mừng vì xem thấy Chúa”.
Người
Kitô hữu sống đạo là người chứa đầy niềm vui và hăng say chiếu giãi niềm vui khi
gặp được Chúa. Đức tin của chúng ta cũng chỉ lớn lên và không bị khiếp nhược sợ
hãi bóng tối nếu chúng ta vững tin vào sự phục sinh của Chúa như Người đã động
viên các tông đồ: "Các con đừng sợ, vì Thầy đã thắng thế gian rồi".
3) Chúa Phục Sinh ban Thần Khí giúp chu
toàn sứ mệnh loan báo Tin Mừng:
Trong Tin Mừng những người đã
được phúc gặp Chúa Phục sinh, đều mau mắn chu toàn lệnh truyền của Chúa, là
loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho tha nhân. Chẳng hạn: Mấy người phụ nữ sau khi
gặp Chúa Phục Sinh đã trở về báo tin vui cho các môn đệ rằng: “Chúa đã sống lại”.
Hai môn đệ về làng Emmaus, sau khi nhận ra Chúa Phục Sinh khi Người bẻ bánh, đã
lập tức trỗi dậy trở về thủ đô Giêrusalem, loan báo tin vui cho các anh em khác:
“Chúa đã sống lại rồi và chúng tôi đã nhận ra Người khi Người bẻ bánh”. Các
Tông đồ sau khi đã đón nhận đầy ơn Thánh Thần vào lễ Ngũ Tuần, đã mở tung cửa
nhà Tiệc Ly ra đường để rao giảng Tin Mừng cho dân chúng thuộc mọi nước mọi dân
ở thủ đô Giê-ru-sa-lem. Các ông còn sẵn sàng hy sinh mạng sống để làm chứng cho
Chúa.
Còn
chúng ta thì sao? Chúng ta đã loan báo Tin Mừng Phục sinh cho tha nhân như thế
nào? Chúng ta đã làm gì để trở thành
chứng nhân cho tin mừng Phục Sinh?
4) Phải làm chứng cho Chúa thế nào trong
xã hội hôm nay ? :
Ngày nay các tín hữu dù
không thấy Chúa, nhưng vẫn có thể thi hành sứ mệnh làm chứng cho Người bằng các
phương thế như sau:
+ Làm
chứng bằng việc thuật lại
cho người khác về cuộc đời và lời rao giảng của Đức Giê-su: như
bà Ma-ri-a Mác-đa-la đã làm (Ga 20,18). Việc truyền đạt này mọi tín hữu đều có
thể làm, nhưng nguyên việc này khó lòng mang lại hiệu quả để thuyết phục được người nghe tin theo (x. Lc 24,11).
+ Làm
chứng bằng cách để Chúa Thánh Thần nói với tha nhân qua chúng ta: Đức
Giê-su đã từ cõi chết sống lại và chúng ta nhờ ơn Thánh Thần ban, có bổn phận
chia sẻ niềm vui và sự bình an mình
cảm nghiệm được cho tha nhân. Cách làm chứng này đã được Nhóm
Mười Một Tông đồ áp dụng. Sau khi đón nhận Thánh Thần, ông Phê-rô đã rao
giảng và làm chứng về Đức Giê-su như sau: “Chính Đức Giê-su đó, Thiên Chúa đã
làm cho sống lại. Về điều này tất cả
chúng tôi xin làm chứng. Thiên Chúa Cha đã ra tay uy quyền nâng
Người lên, trao cho Người Thánh Thần đã hứa, để Người đổ xuống. Đó là điều anh
em đang thấy đang nghe…” (Cv 2,32-33). Nhờ ơn Thánh Thần tác động, cách làm chứng đầy xác tín này của ông Phê-rô đã khiến
ba ngàn người xin theo đạo (x. Cv 2,41).
+ Làm chứng bằng lối sống quên mình, vị tha bác ái: noi
gương cộng đòan Hội Thánh sơ khai như sách Công vụ thuật lại: “Các tín hữu
chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau và cầu
nguyện không ngừng. Mọi người đều kính sợ, vì các Tông đồ làm nhiều điềm thiêng
dấu lạ. Tất cả các tín hữu hợp nhất
với nhau và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy
tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ. Khi làm lễ bẻ bánh
tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên
Chúa, và được tòan dân thương mến. Và
Chúa cho cộng đòan mỗi ngày thêm những người được cứu độ” (Cv
2,42-47). Cách làm chứng này hữu hiệu và rất phù hợp với các cộng đoàn tu sĩ,
các hội đoàn công giáo tiến hành và các cộng đoàn giáo xứ giáo họ.
+ Cuối
cùng, làm chứng cho Đức Giê-su bằng việc sẵn sàng chịu bách hại
vì đức tin, noi gương các anh hùng tử đạo: Các ngài đã không hèn
nhát chối Chúa để được sống, nhưng đã sẵn sàng chịu chết vì đức tin để trở
thành những “Chứng nhân đức tin”.
Đây cũng là phương cách truyền giáo hữu hiệu như lời ông Téc-tuy-li-a-nô đã nhận
định: “Máu các vị Tử đạo là
hạt giống phát sinh các Ki-tô hữu”.
Ngày nay tuy chúng ta không bị giết hại vì đức tin
như các anh hùng Tử Đạo Việt Nam, nhưng chúng ta cũng có thể trở nên chứng nhân đức tin khi can đảm sống vị
tha bác ái giữa một xã hội gian ác như lời Chúa phán: “Ánh sáng của anh em phải
chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm
mà ngợi khen Cha của anh em Đấng ngự trên trời”.
4.THẢO LUẬN: Hôm nay bạn sẽ áp dụng phương cách truyền giảng Tin
Mừng cụ thể nào để giúp các bạn học cùng trường, các người hàng xóm,
bạn đồng nghiệp được tin vào Chúa và được hưởng ơn cứu độ của Chúa với chúng
ta.
5.NGUYỆN
CẦU
- LẠY CHÚA GIÊ-SU PHỤC SINH.
Giữa một thế giới chỉ biết
tìm kiếm hưởng thụ tiện nghi vật chất và thỏa mãn các đam mê khoái lạc. Xin cho
chúng con biết chấp nhận lối sống đơn sơ khó nghèo như lời Chúa dạy: “Chồn cáo
có hang, chim trời có tổ. Con người không có hòn đá gối đầu”.
Giữa một thế giới khinh
thường và chà đạp nhân phẩm những người nghèo khó bất hạnh. Xin cho chúng con
biết quý trọng mọi người và sẵn sàng phục vụ Chúa đang hiện thân nơi những
người đau khổ bệnh tật và bị bỏ rơi.
Giữa một thế giới sống không
lý thưởng, không có niềm hy vọng vào tương lai. Xin cho chúng con biết vững tin
vào quyền năng và tình thương của Chúa và tích cực góp phần xây dựng một “Trời
Mới Đất Mới” công bình nhân ái và hạnh phúc ngay từ ngày hôm nay.
- LẠY
CHÚA GIÊ-SU PHỤC SINH.
Qua bài Tin Mừng hôm nay,
Chúa đã củng cố đức tin của các tông đồ bằng việc cho xem tay chân
đã từng bị đóng đinh trên cây thập giá và còn ăn
uống trước mặt các ông. Rồi khi các ông đã tin, Chúa lại trao sứ mệnh làm
tông đồ cho các ông. Xin giúp chúng con hôm nay biết ăn năn sám hối tội
lỗi và quảng đại chia sẻ cơm áo tiền bạc cho những người nghèo đói,
thăm viếng an ủi những người đau liệt, tha thứ cho những người xúc phạm
đến chúng con... để chúng con trở nên những tông đồ giáo dân nhiệt thành
làm chứng cho Chúa ngay trong môi trường sống và làm việc của chúng con.
X)
HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM
ĐAN VINH - HHTM